YÊU MẾN CHÚA VÀ YÊU THƯƠNG THA NHÂN
QUA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN TRONG TƯƠNG QUAN VỚI THỜI ĐẠI NGÀY NAY
“Thiên Chúa là TÌNH YÊU” (1Ga 4,8). Ai yêu thương thì ở trong Thiên Chúa. Đức thương yêu là căn tính của người theo Chúa, là dấu chỉ và ngôn ngữ của người môn đệ Chúa Giêsu, những người đã “từ bỏ mọi sự mà theo Chúa”. Do đó, không sống yêu thương, người tu sĩ tự mâu thuẫn và đánh mất chính mình.
Yêu thương là dấu hiệu của người tu sỹ, là lẽ sống, lý tưởng, khuôn mẫu của đời tu. Vì thế mục tiêu trong năm nay nhắc chúng ta nhìn lại, sửa chữa và đào sâu hơn về mối tương quan của chúng ta với Chúa Giêsu và tha nhân, đặc biệt trong phạm vi đời sống tu sĩ hiến dâng về:
– Đời sống cầu nguyện, kết hợp với Thiên Chúa.
– Tuân giữ ba lời Khấn Dòng.
– Thể hiện đức bác ái trong đời sống chung.
– Sống đời thánh hiến trong sứ vụ tông đồ.
trong tương quan với những thách đố của thời đại kỹ thuật số hiện nay.
1. Đời sống cầu nguyện – Kết hợp với Thiên Chúa
Sự phát triển của xã hội ngày nay đã tạo cho con người một cuộc sống tiện nghi và văn minh hơn, đồng thời cũng làm cho nhiều người chạy theo vật chất hơn, dễ lãng quên cuộc sống giá trị vĩnh cửu ở đời sau. Có khi họ nghĩ rằng những điều mình có được là do chính mình tạo ra, do sự may mắn, hay điều đó đến với mình là lẽ tất nhiên. Điều này cũng đã và đang ảnh hưởng tới giới tu sĩ, những người sống đời thánh hiến với việc chính là cầu nguyện, nối kết với Thiên Chúa.
Cầu nguyện là nguồn mạch sự sống, nơi đây ta được kết hợp mật thiết hơn với chính Thiên Chúa, và được nên đồng hình đồng dạng với Người như Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đã nói trong cuốn Đường Hy Vọng: “Cầu nguyện là nền tảng của đời sống thiêng liêng. Lúc cầu nguyện con nối liền, kết hợp với Thiên Chúa” (ĐHV, số 120). Ngày nay nhiều tu sĩ, ngay cả chúng ta, nếu không cẩn thận chúng ta có thể dần dần đánh mất đời sống cầu nguyện, trở nên nguội lạnh dẫn đến sự thờ ơ với ơn gọi hiến dâng của mình.
Có nhiều lý do ảnh hưởng đến đời sống cầu nguyện: một chương trình được định sẵn cần phải đi theo, biến đời sống cầu nguyện ngang hàng với các sinh hoạt khác; hoặc đi cầu nguyện theo thói lệ, một cách máy móc, nghe chuông, đến giờ đi, ngày nào cũng có mặt đầy đủ, đúng giờ; không ý thức là mình đang đánh mất chính nền tảng của đời sống dâng hiến, được xây dựng trên việc cầu nguyện. Dần dần chúng ta trở nên hời hợt, hướng ngoại, không có chiều sâu trong tâm hồn, để rồi khi gặp khó khăn chúng ta dễ đi tìm an ủi, tâm sự với một con người thay vì đến với Chúa, vì. Ta có thể thấy mình cô đơn, lẻ loi như một cây khô héo, vì đã để mất nguồn nước Sự Sống là chính Đức Kitô. Khi người tu sĩ không thực sự cầu nguyện họ sẽ thấy đời tu mất ý nghĩa, họ không có sức chịu đựng những thánh giá Chúa gửi đến trong cuộc sống. Chính nhờ cầu nguyện liên lỉ mà ta có được sức mạnh để vượt qua tất cả và làm trọn thánh ý Thiên Chúa.
Hãy luôn nhớ rằng, để có ba năm rao giảng thành công, Chúa Giêsu đã phải chuẩn bị cho mình suốt 30 năm sống ẩn dật nơi gia đình Nazaret. Hãy thinh lặng cầu nguyện để nhận ra sự quan phòng của Thiên Chúa, nhận ra mọi điều ta có đều là của Ngài, vì chính Chúa Giêsu đã nói: “Không có Thầy, các con chẳng làm gì được”.
2. Sống ba lời khuyên Phúc Âm trong thế giới ngày nay
Ba lời khấn dường như lúc nào và ở thời đại nào cũng gặp khó khăn, nhất là ở thời đại kỹ thuật số hiện nay. Trong xã hội, đang khi con người đề cao tiền bạc, vật chất, văn minh tiến bộ, thì đời sống tu trì lại mời gọi chúng ta sống lời khấn khó nghèo triệt để; đang khi con người sống hưởng thụ, thì chúng ta lại được mời gọi sống khiết tịnh vì Nước Trời; đang khi con người đề cao cái tôi cá nhân, thì chúng ta lại được mời gọi sống vâng phục tuyệt đối theo gương Chúa Kitô, “Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8). Đó chính là những thách đố khi người tu sĩ cố gắng giữ ba lời khuyên của Tin Mừng.
Lời khấn Khó nghèo
Trong thực tế, không ít người sống đời tu nhưng đã bị cuốn hút vào vòng xoay của lối sống thực dụng. Họ chạy theo thời đại với những toan tính thiên về vật chất. Họ cố gắng tìm cho mình những gì người khác có, học hành, bằng cấp, không phải để phục vụ mà có thể là để tỏ ra mình có kiến thức. Tâm tính này dễ dẫn đến coi thường người khác. Về vật chất, nhiều vật dụng không cần thiết hoặc chưa cần thiết cho cuộc sống nhưng vì muốn có để bằng hoặc hơn người, họ tìm cách để đạt được điều mình muốn. Có những tu sĩ đưa ra những lý luận rất hay để biện minh cho những hành động chạy theo lối sống hưởng thụ của mình.
Nhìn ra xã hội đầy văn minh tân tiến. Nhìn vào bạn bè đã có sự nghiệp, họ thấy mình như không có gì. Từ những so sánh tính toán đó, người tu sĩ dễ rơi vào những cám dỗ về phương tiện vật chất. Họ nghĩ cần có nhiều kiến thức, và để phục vụ họ cần phải có đủ phương tiện văn minh tân tiến của thời đại mới mong đạt được kết quả tốt. Ban đầu, ý tưởng có đủ điều kiện vật chất để thi hành công việc là một điều tốt. Nhưng sau đó, ý hướng này đã bị lạm dụng bởi những nhu cầu không chính đáng. Cứ thế, người tu sĩ bị bao phủ bởi những của vật chất chiếm hữu được, khó lòng từ bỏ. Lời khấn khó nghèo trở nên nặng nề hoặc có thể bị xuyên tạc để trở nên dễ dàng biện minh cho những sở hữu trái ngược với lời khấn khó nghèo.
Lời khấn Vâng phục
Thế hệ ngày nay lôi cuốn người tu sĩ vào chủ nghĩa cá nhân. Họ tìm cho mình một lập trường và có thể tự cho rằng mình có đủ kiến thức, có đủ khả năng để tự phán quyết và dễ dàng phê phán người khác. Nếu không cẩn thận tu sĩ có thể dựa theo lập trường, theo kiến thức, sự hiểu biết của mình mà không thể nhận mình có những sai sót khi được nhắc nhở. Họ lẩm bẩm kêu ca, trách móc, đối kháng khi phải vâng phục, có khi còn tỏ thái độ hoặc lời nói coi thường, thiếu tôn trọng bề trên cũng như chị em trong cộng đoàn. Họ quên rằng, lời khấn vâng phục mà họ đã tuyên khấn là vâng phục Thiên Chúa, và bề trên là người có trách nhiệm với Ngài.
Lời Khấn Khiết Tịnh
Khi gặp khủng hoảng, căng thẳng, người tu sỹ không tìm sức mạnh nơi Thiên Chúa, niềm vui nơi cộng đoàn thì họ dễ đi tìm sự khoả lấp từ bên ngoài. Khi tâm hồn trống vắng, thay vì tìm sự an ủi nơi Người Tình Giêsu, họ tìm đến với những niềm vui nơi người trần. Bên cạnh đó, các phương tiện truyền thông dễ lôi kéo người tu sĩ tìm kiếm những nhu cầu theo sở thích, nhất là khi những phương tiện này chiếm đa phần thời giờ trong ngày sống. Họ không thấy được hạnh phúc khi sống với cộng đoàn, cộng đoàn trở nên phiền hà, chị em thành vướng lối. Lúc đó, Lời khấn khiết tịnh trở nên gánh nặng, biến cuộc đời dâng hiến đáng lý ra rất hạnh phúc thành nặng nề, khô lạnh, trống rỗng.
Giữa những khó khăn nêu trên, tu sĩ được mời gọi sống trọn vẹn và viên mãn trong đời sống cộng đoàn bằng việc bằng việc kết hiệp gắn kết với Người mình yêu là Chúa Giê su và tuân giữ ba lời khuyên Phúc Âm: khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, bởi đây là một trọng yếu, khẩn thiết của người sống đời dâng hiến. Mỗi người trong chúng ta được mời gọi dâng hiến và sống dấn thân ngay trong môi trường cộng đoàn nơi chúng ta hiện diện và lấy Đức Kitô là trung tâm của đời sống.
3. Sống yêu thương cụ thể trong cộng đoàn thánh hiến
Một yếu tố quan trọng trong đời tu sĩ hiến dâng là đời sống Cộng Đoàn, Trong đời tu chúng ta chắc chắn có nhiều lúc bị cám dỗ sống ích kỷ, chỉ biết lo cho mình, sống “co cụm trong vỏ ốc” và không muốn quan tâm đến ai, muốn làm gì tùy ý. Với thời đại kỹ thuật số hôm nay, tinh thần thế tục len lỏi vào trong thế giới ẩn dật của người tu sĩ.
Khi nói đến đời sống chung, chắc chắn phải có nhiều người sống với nhau, nhưng lại khác nhau về hoàn cảnh, văn hóa, vùng miền, suy nghĩ, lối sống, tính tình, quan điểm và tuổi tác… Những khác biệt này ít nhiều gây xung khắc hay va chạm trong đời sống thường ngày. Không phải ai cũng hợp tính, có cùng sở thích, cùng quan điểm với mình. Nhưng vì Thiên Chúa quy tụ chúng ta lại với nhau nên chúng ta đón nhận nhau, và với tình yêu của Ngài trong tâm hồn, chúng ta từ bỏ ý riêng để lấy ý chung của cộng đoàn, sống theo chương trình, giữ kỷ luật, khép mình vào luật phép để có sự hài hòa và bình an.
Sống yêu thương cụ thể trong cộng đoàn thánh hiến là có tình nghĩa chung, nghĩ đến chị em trước khi nghĩ đến mình, nâng đỡ nhau, thông cảm, đoán ý lành và tha thứ cho những sự vô tình xúc phạm đến nhau, “Yêu nhau thì chín bỏ làm mười”
Khi có sự yêu thương nâng đỡ gánh nặng cho nhau, đùm bọc nhau, quảng đại và tha thứ, là có sự bình an trong tâm hồn, xây dựng sự hiệp nhất nơi cộng đoàn mà mình được mời gọi sống với nhau. Chúng ta cầu xin hằng ngày trong kinh Dâng Dòng, xin được “ Yêu nhau tận tình trong ý tưởng, lời nói, việc làm, nhường phần hơn, nhịn nết xấu, đoán ý lành cho nhau”. Liệu chúng ta có thực sự ý thức và với ơn Chúa và sự trợ giúp của Mẹ, cố gắng sống những điều mình thưa lên mỗi ngày chưa?
Bác ái yêu thương lấp phủ tất cả, như thánh Phaolô miêu tả: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả”. (I Cor 13 )
4. Đời Sống Thánh Hiến Trong Sứ Mạng Tông Đồ
“Được thánh hiến và được sai đi” là hai yếu tố làm nên đời sống hiến dâng. Cũng như Đức Kitô được thánh hiến và sai vào thế gian thế nào (Ga 10,36), người tu sĩ cũng được thánh hiến cho sứ mạng, được sai đi vào đời để phục vụ tình yêu như vậy. Họ được Chúa Thánh Thần thánh hiến, ban ân sủng để được trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô và nhận lấy sứ mạng của Người làm của mình. Người tu sĩ thực hiện sứ mạng tông đồ với tư cách là môn đệ của Đức Giêsu. Họ nhân danh Đức Giêsu và chỉ tìm một mục đích là cho vinh danh Chúa, nhất là trong việc giúp đỡ các linh hồn trở về với Thiên Chúa. Làm sao để sống trong thế gian, hòa nhập chứ không hòa tan nơi môi trường sứ vụ. Chính vì vậy, người tu sĩ trong khi phục vụ cần khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ là dụng cụ của Thiên Chúa. Trước một thế giới đầy biến động, chúng ta cần trở nên dấu chỉ và biểu hiện của niềm hy vọng cho người tín hữu, đừng để mình đánh mất đi niềm hy vọng vào Đức Giê-su Ki-tô. Giữa những lôi cuốn của công việc phục vụ, chúng ta dễ bị lôi cuốn chạy theo công việc mục vụ được giao phó. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ dồn hết tâm lực và thời giờ vào nó, dẫn đến việc chúng ta lơ là trong căn tính tu sĩ của mình, chọn việc của Chúa hơn là chọn chính Chúa.
Hiểu được như thế thì người tu sĩ cần thiết lập mối tương quan cá vị, và đồng thời để kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu như là đối tượng duy nhất trong cuộc đời mình, không gì có thể làm cho lòng họ thay đổi. Nói như Thánh Phaolô Tông đồ là: Không có gì có thể tách Tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Dù có phải đói rách, hiểm nguy, gươm giáo cũng không làm cho người tu sĩ chùn bước chân theo Chúa được.
Để có thể thực hiện được mục tiêu trên, chị em Trinh Vương cùng nhau nhìn lại đời sống thánh hiến của mình trong những khía cạnh cụ thể dưới đây, để sửa đổi, bảo tồn và thăng tiến cho cuộc đời tu trì thánh hiến của chúng ta qua các đề tài sau:
Tháng 1,2,3: Đời sống cầu nguyện, kết hợp mật thiết với Thiên Chúa.
Tháng 4,5,6: Tích cực giữ ba lời khấn dòng, Khó Nghèo, Vâng Phục và Khiết Tịnh.
Tháng 7,8,9: Thể hiện Đức Bác Ái qua Lời nói và việc làm trong đời sống cộng đoàn.
Tháng 10,11,12: Thi hành sứ vụ tông đồ được trao phó với tâm tình phục vụ khiêm tốn và vô tư và vì vinh danh Chúa.
Xin Thiên Chúa và mẹ Maria cho mỗi người chúng ta luôn gắn bó với Thiên Chúa để qua đó chúng ta nhận được nguồn sống và ơn phúc từ Ngài và sống là những tu sĩ đích thực, luôn được bình an và có thể đem niềm vui và hạnh phúc đến cho chị em trong cộng đoàn và những người trong môi trường hoạt động tông đồ của mình.
Sách tham khảo
– Yêu Mến Chúa Giêsu: Thánh Anphongso
– Hãy theo Thầy – Con thơ Phó Thác
– Hãy Mặc Lấy Đức Kitô Giêsu
– Thách Đố của Người Tu sĩ trong Thời Đại Mới.
– Thách Đố trong đời sống cầu Nguyện
– Thách đố trong Đời Sống Hiến Dâng
– Thách Đố của Đời Sống Cộng Đồng
– Thách Đố Về Đức Tin Của Người Thánh Hiến Người Tu sĩ sống cộng Đoàn và Sứ Vụ
– Yếu Tố Con Người trong Đời Sống Thánh Hiến
