THỬ THÁCH – CÁM DỖ

Dẫn nhập

Trong mỗi giây phút của đời sống, chúng ta luôn đối mặt với những thử thách và cám dỗ. Nó là điều không ai muốn, không ai được miễn trừ, “như tấm lưới mạng nhện khổng lồ sẵn sàng chụp xuống để bao bọc và giết chết con mồi”[1]. Thế nhưng, chính mỗi khi đối diện với thử thách, cám dỗ, đó lại là dịp để ta khẳng định mình, nhờ đó có thêm kinh nghiệm trong cuộc sống để đến đỉnh vinh quang. Đức tin trưởng thành của mỗi người cũng đòi phải qua thử thách. Bởi vậy, Thomas A. Tarrants đã khẳng định thử thách là chìa khóa để phát triển đức tin mạnh mẽ hơn. Nó cũng minh họa những phúc lành lớn lao mà Chúa tuôn đổ trên những ai tin cậy và vâng lời Ngài[2]. Ta không nghi ngờ gì về điều này. Thánh kinh đã kể lại vô vàn minh chứng hiển nhiên và sinh động.

Thử thách và cám dỗ đã xuất hiện ngay trong những trang đầu cuốn Thánh kinh với Adam và Eva ở vườn địa đàng (St 2, 4b – 3,24). Trong cuộc đời Abraham, chúng ta thấy thử thách (St 22, 1-19) để chứng tỏ lòng tin, sự công chính của ông. Hành trình của Israel trong sa mạc cũng thấy biết bao lần Thiên Chúa thử thách, còn dân thì càm ràm, kêu trách, nổi loạn. Câu chuyện ông Gióp (G 1, 6-12; 2, 1-7) sau này cũng là ví dụ điển hình về con người bị thử thách và cám dỗ. Sự thử thách và cám dỗ cũng chiếm phần lớn trong các câu chuyện Tân Ước. Điển hình là việc Giuda bị cám dỗ phản bội thầy mình (Mt 26, 14-16), hay việc Phêrô bị cám dỗ chối Chúa (Mt 26, 69-75). Tuy nhiên, sự thử thách và cám dỗ lớn nhất trong Tân ước là của chính Đức Kitô. Đây cũng là nội dung mà bài viết muốn truyền tải. Nhưng để hiểu những điều trên cách rõ ràng hơn, thiết tưởng thật cần thiết khi tìm hiểu xem thử thách, cám dỗ là gì?

  1. Thử thách – cám dỗ

1.1 Thử thách, cám dỗ là gì?

1.1.1 Xét về từ ngữ

Trong tiếng Do Thái, danh từ massāʰ bắt nguồn từ động từ nāsāʰ có nghĩa là thử, thử thách, thách thức, minh chứng. Ngoài ra, tiếng Do Thái còn dùng một vài động từ khác với nghĩa cụ thể là dụ dỗ, hoặc quyến rũ làm điều ác[3]. Trong tiếng Hy Lạp cổ, động từ πειράζω được sử dụng, đầu tiên theo nghĩa “cố gắng”, sau đó theo nghĩa “cố gắng, kiểm tra“, nhưng không phải theo nghĩa “cám dỗ“; tuy nhiên ý nghĩa thứ hai lại phổ biến trong bản Hy Lạp và Tân Ước . Danh từ πειρασμός gần như là một từ trong Kinh thánh, không chỉ có nghĩa là thử thách mà còn có nghĩa là cám dỗ (làm điều ác)[4].

1.1.2 Sự định nghĩa

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thử thách đơn giản chỉ là “cho trải qua những tình huống, việc làm khó khăn, gian khổ để thấy rõ tinh thần, nghị lực, khả năng như thế nào”[5], còn cám dỗ là “làm cho người ta ham muốn cao độ đến mức tin theo, làm theo một cách mù quáng”[6]. Từ điển Công giáo cũng có những định nghĩa tương tự về thử thách và cám dỗ[7].

Giáo lý HTCG đi sâu hơn khi định nghĩa cám dỗ là sự thu hút từ bên ngoài hoặc bên trong khiến họ hành động trái với những lẽ phải và các giới răn của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế đã bị cám dỗ, thử thách để biểu lộ sự chống đối giữa Người và ma quỷ cũng như sự chiến thắng của công cuộc cứu độ của Người trên Satan[8]. Nhưng, để hiểu cám dỗ, thử thách theo nghĩa Kinh thánh, ta phải thấy đó là “một tình huống trong đó một người chịu thử thách để đưa ra chọn lựa trung thành hay bất trung với Thiên Chúa”[9]. Tuy nhiên, ta cũng thấy được sự mơ hồ, không rõ ràng giữa hai khái niệm “cám dỗ” và “thử thách”.

  1. 2 Phân biệt sự thử thách và cám dỗ

Trong Kinh thánh, cám dỗ là sự dụ dỗ để hành động bất tuân với ý muốn của Thiên Chúa. Thử thách là một tình huống mà Chúa gửi đến hoặc cho phép xảy ra với mục đích bộc lộ lòng trung thành, sự cam kết của ta với Ngài; đồng thời giúp thanh lọc, củng cố và giúp chúng ta trưởng thành[10]. Như vậy, nếu điều trực tiếp đến từ Thiên Chúa, được gọi là thử thách, “Thử thách là hồng ân của ân sủng, nhắm đến sự sống”[11]. Còn nếu điều trực tiếp đến từ ma quỷ được gọi là cám dỗ: “cám dỗ thì xúi giục phạm tội và sinh ra chết chóc”[12].

  1. 3 Nguồn gốc, bản chất và mục đích của thử thách, cám dỗ

Chúng ta có thể xác quyết rằng Thiên Chúa không phải là nguồn cám dỗ (Gc 1, 13-14). Nguồn gốc của cám dỗ là thế gian, xác thịt và ma quỷ[13]. Cám dỗ đến từ thế gian theo nghĩa Kinh thánh ám chỉ những quyền lực, ưu tiên, những giá trị chống lại Thiên Chúa và mạc khải của Ngài (Ga 12,31; Ep 2,2; 2Cr 4,4). Chính Chúa Giêsu đã dạy: “Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 19). Thế gian đã mê hoặc chúng ta bằng những vẻ đẹp, những tiện nghi vật chất chóng qua. Nó cho chúng ta thấy vinh quang của nó và quên đi Đấng vinh quang hơn đã tạo ra nó.

Nguồn gốc thứ hai phát sinh cám dỗ là xác thịt. Nó là phần trong chúng ta nổi loạn, không thích bị sai bảo, chống lại lẽ thật và tức giận vì mình kém hơn Thiên Chúa và lệ thuộc vào Ngài. Giáo lý truyền thống cũng dạy 7 động lực cơ bản nhất để phạm tội là: Kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, hờn giận, mê ăn uống, ghen ghét, lười biếng. Nguồn gốc cuối cùng của cám dỗ mà chúng ta dễ nhận thấy là từ Satan, ma quỷ. Chúng có thể thao túng thế giới và xác thịt chúng ta. Kinh thánh đã nêu biết bao ảnh hưởng cám dỗ của hắn: St 3,1; 1Sbn 21,1; Mt 4,1; Lc 8,12, Kh 12,17… Tuy nhiên, thế gian, xác thịt, và ma quỷ không thể ép buộc chúng ta phạm tội, tất cả những gì chúng có thể làm là đề xuất và lôi kéo. Chúng không khiến con người sa vào cám dỗ, nhưng chỉ là dịp để phạm tội. Sự lựa chọn của con người mới là điều quyết định. Và bất kể nguồn gốc của sự cám dỗ là gì, chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình[14]. Mặc dù có những nguy hiểm như vậy, nhưng thử thách, cám dỗ cũng mang những mục đích tích cực, đáng được lưu tâm[15].

Thử thách, cám dỗ phơi bày bản chất thật của ta, vì con người thường che đậy, giả dối; nên qua thử thách, chúng ta sống chân thật, thấy rõ bản chất Adam tội lỗi xấu xa trong mình (Gr 17,9). Thử thách, cám dỗ để sửa phạt, dạy dỗ (1Pr 4, 1-2; Hr 12, 5-6) và biến đổi con người bên trong của ta (Rm 5, 3-4). Điều rất quan trọng khi thử thách, cám dỗ xảy đến là củng cố đức tin của chúng ta. Bình thường, chúng ta chỉ tin Chúa cách hời hợt, nhưng qua thử thách, đức tin sẽ trưởng thành (Xh 14, 30-31; Ga 11,45).

  1. Những thử thách, cám dỗ trong Cựu Ước

Kinh nghiệm về thử thách, cám dỗ không chỉ có trong lãnh vực luân lý, Kinh thánh còn cho thấy nó ăn sâu nơi thảm cảnh tôn giáo và lịch sử[16]. Con người qua mọi giai đoạn khác nhau luôn phải sống kinh nghiệm này. Cựu ước đã nêu ra biết bao trình thuật về thử thách, cám dỗ. Có khi con người đã vượt thắng, những cũng không thiếu những sự sa ngã trong cám dỗ. Cụ thể là:

  1. 1 Thử thách và cám dỗ ở Vườn Địa Đàng với Adam và Eva (St 3, 1-24)

Ngay khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã có dự án yêu thương, muốn cho con người được hạnh phúc. Ngài chỉ đặt một hạn chế duy nhất: “Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào người ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2, 16-17). Thiên Chúa đặt để như vậy là cho Adam và Eva có cơ hội bày tỏ lòng biết ơn, tình yêu thương và sự tin cậy nơi Ngài[17]. Thế nhưng sự thử thách này đã bị thất bại bởi ma quỷ, mà ở đây Kinh thánh nói là “con rắn”.

Bắt đầu, con rắn không xuất hiện với bộ móng và sừng, nhưng là một bộ dạng hấp dẫn. Cách tiếp cận của kẻ cám dỗ có vẻ ngây thơ, thận trọng và như vô hại, nhưng thực ra là âm mưu lừa đảo nhằm gài bẫy bà Eva: “Có thật Thiên Chúa bảo ‘các ngươi không được ăn hết trái cây trong vườn không’?” (St 3,1)[18]. Nhưng ngay sau đó, nó nhanh chóng chuyển sang mâu thuẫn với lời của Đức Chúa về hậu quả của việc ăn trái cây đó khi nói rằng: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” (St 3, 4-5). Trong hành động khéo léo này, con rắn muốn bóng gió rằng Thiên Chúa ghen tị muốn giữ lại món quà bất tử cho mình và đặt một hạn chế không chính đáng với loài người[19]. Hắn đã làm xói mòn lòng tin cậy của Eva vào sự tốt lành, nó đã “thổi phồng giới hạn của con người, để gieo rắc vào lòng người nữ sự nghi ngờ”[20]. Có thể nói rằng, con rắn đã “đánh đúng chỗ yếu nhất của con người để lừa đảo bằng cách bôi nhọ Thiên Chúa”[21].

   Tuy nhiên, nếu như chỉ dừng lại ở việc con rắn cám dỗ bà Eva và bà cương quyết tuân theo lệnh Thiên Chúa, thì tội lỗi đã không tràn vào thế gian này, vì kẻ cám dỗ không thể ép bà phạm tội. Nhưng “sai lầm đầu tiên của bà Eva là đối thoại với con rắn”[22]. Bà đã xem xét những lợi ích rõ ràng của việc ăn trái cấm: “Ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn” (St 3, 6). Người đàn bà đã hành động cách hoàn toàn tỉnh táo và tự do lựa chọn không vâng lời Thiên Chúa khi ăn trái cấm và còn đưa cho chồng ăn. Hai ông bà đã muốn có quyền lập pháp, muốn nên như các vị thần, muốn tự mình quyết định, không muốn lệ thuộc, không muốn chấp nhận thân phận thụ tạo và gián tiếp chối từ Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa[23].

Thế nhưng, thay vì biết điều thiện điều ác, giờ đây “mắt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng” (St 3, 7). Họ đã đánh mất sự công chính nguyên thủy. Sự lựa chọn bi thảm đó đã mang đến những hậu quả tai hại cho Adam và Eva, cho gia đình họ và mọi người: nó khiến họ xa cách Thiên Chúa, mang đến cho Eva nỗi đau khi sinh con và sự vô ích của Adam trong công việc, tình huynh đệ tương tàn và mọi hình thức đau khổ khác (x. St 3, 17-19). Tuy nhiên, sau ông bà nguyên tổ, ta cũng thấy những gương mặt đã hoàn toàn tin tưởng, vâng phục, cậy trông vào Thiên Chúa khi gặp cám dỗ, thử thách. Chúng ta không thể không kể đến Abraham.

  1. 2 Thiên Chúa thử lòng ông Abraham (St 22, 1-19)

Trong cuộc đời Abraham, chúng ta thấy có những loại thử thách khác nhau, dù sự cám dỗ phạm tội không quá nổi bật, nhưng mang lại những bài học quý giá[24]. Đó là khi Thiên Chúa kêu gọi ông rời bỏ gia đình, quê hương để đến miền đất Chúa sẽ chỉ cho (St 12, 1-3). Thiên Chúa thử thách để muốn thấy việc thực hành đức tin, sự vâng lời, sự tin cậy của Abram vào Chúa thế nào? Abram đã vượt qua thử thách này trong sự vâng phục của đức tin. Nhưng về cuối đời, ông phải đối mặt với một thử thách khó khăn nhất, và chính nơi thử thách này, “hành trình đức tin của Abraham đạt đến tột đỉnh”[25]. Đó chính là việc Thiên Chúa truyền lệnh cho ông hiến tế con trai mình là Isaac (St 22, 1-19).

Ngay đầu câu chuyện, tác giả khẳng định: “Thiên Chúa thử lòng ông Abraham”. Nói như vậy để xác định rõ chính Thiên Chúa thử lòng ông chứ không phải một vị thần nào; đồng thời khi giới thiệu như vậy để cho thấy một điều gì đó gian khổ mà Abraham phải vượt qua, càng sáng tỏ phẩm chất của mình. Tuy nhiên, “Thiên Chúa ‘thử thách’ không hề nhằm ‘bóp nghẹt’ Abraham”[26]. Khi Thiên Chúa truyền lệnh: “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Isaac” (St 22, 2). Tác giả không cho biết Abraham nghĩ gì, nhưng có thể thấy lệnh truyền đó quá bất ngờ, phũ phàng với một cụ già[27]. Vì giữa Abraham và Isaac không đơn thuần là mối quan hệ cha con, nhưng Isaac còn là hiện thân giao ước với Thiên Chúa, hiện thân của lời hứa. Vì thế, hiến tế Isaac đồng nghĩa hiến tế tương lai của ông[28]. Quả thực, đề nghị này của Thiên Chúa là một thách thức liều lĩnh, và đây quả là “cuộc thử thách tột cùng nhất mà người cha phải trải qua”[29].

Sau “một đêm tăm tối, một đêm của vật lộn chọn lựa”[30] thì ngày hôm sau, ngay từ sớm, Abraham đã dậy. Ông đã đáp lại Thiên Chúa bằng thái độ sẵn sàng và cương quyết cho dù hành trình đầy mạo hiểm đớn đau. Cuộc hành trình tóm gọn trong cụm từ “ngày thứ 3”, nó như muốn nhấn mạnh tinh thần kiên vững và tâm trí minh mẫn của Abraham. Bởi vì, “ba ngày là thời gian cần thiết để Abraham suy nghĩ chín chắn và để ông có cơ hội quay trở lại nếu như ông nhận ra mình quá hấp tấp” [31]. Dọc đường, chúng ta chỉ thấy cuộc đối thoại vắn gọn, giản đơn giữa Abraham và Isaac. Đặc biệt, thắc mắc có vẻ ngây thơ, hồn nhiên của Isaac: “Có lửa, có củi đây, con chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” (c.8) như nhát dao đâm vào Abraham. Thế nhưng, dù khó thoát khỏi sự nghẹn lời của tình cha dành cho con, ông vẫn chân thành trả lời: “Chính Thiên Chúa sẽ liệu con ạ!”. “Abraham không hề nói dối con mình, nhưng ông cũng không nói hết”[32], ông luôn xác tín trong mọi khó khăn, Chúa sẽ liệu theo cách của Ngài.

Nhưng điều đau đớn nhất trong cõi lòng Abraham có lẽ là khi ông trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ, trên đống củi (x. Câu 9). Abraham chấp nhận đánh đổi tất cả để một lòng thực thi lệnh truyền Thiên Chúa. “Giây phút ông cầm dao giết con của mình ấy cũng là giây phút đen tối nhất cuộc đời ông. Nhưng đó cũng là giây phút nhảy vọt trong lịch sử cứu độ. Đó là hành động buông mình trọn vẹn, vượt trên điều sai của luân lý để tất cả thuộc về Chúa”[33]. Tuy nhiên, ngay trong giây phút bi thảm đó, sứ thần Đức Chúa xuất hiện và ngăn cản kịp lúc hành động sát tế của Abraham (x.câu 12). Thiên Chúa vén mở cho ông biết Ngài không hề muốn cái chết của con ông. Ngài thử thách để đặt ông vào một tình thế đòi phải “buông bỏ tới tận cùng, ngay cả con một của ông”[34].

Như vậy, câu chuyện hiến tế Isaac rõ ràng nhằm minh họa đức tin vững vàng và sự vâng phục không nao núng của Abraham trước một mệnh lệnh khó hiểu của Thiên Chúa[35]. Mặc dù Abraham đã vượt qua những thử thách bằng đức tin và sự vâng phục vào Thiên Chúa như thế, nhưng dòng dõi ông – tức là dân Israel sau này lại luôn càm ràm, kêu ca với những thử thách.

  1. 3 Sự thử thách của Dân Thiên Chúa

Sau biến cố vượt qua biển Sậy vẻ vang (Xh 15, 1-21), Israel đã ra khỏi Ai Cập và bắt đầu hành trình trong sa mạc đi về Đất Hứa. Nơi đây, “Israel cảm nhận cơn cám dỗ về sự cứng lòng tin. Họ phản đối sự hiện diện của Thiên Chúa cứu tinh trong cơn thử thách”[36]. Điều này cho thấy Chúa vẫn âm thầm giáo dục dân. Ngài đã dẫn họ vào một tình thế khó khăn để họ phải chọn lựa: “hoặc là tin vào Đức Chúa, hoặc là càm ràm kêu trách”[37]. Chúa muốn tạo cho Israel cơ hội để khám phá ra Thiên Chúa là nguồn sống của họ. Tuy nhiên, dù đã thấy tận mắt tình thương Thiên Chúa khi ban nước (Xh 15, 24-25), mana và chim cút (Xh 16, 1-5), lòng họ vẫn luôn sợ hãi lo lắng cho mạng sống và ngày mai phía trước, họ gây sự nổi loạn chống lại Thiên Chúa (Dnl 33,8). Như vậy, “con người không chỉ cần được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi nghi ngờ bên trong nữa”[38] để có thể ngoan ngùy theo sự dẫn dắt của Chúa.

Sau khi Thiên Chúa lập giao ước với Israel tại Xinai (Xh 19, 1-24,18), Thiên Chúa thử thách xem họ có trung thành với giao ước hay không?[39]. Họ bị những cám dỗ về sự an toàn tạm bợ (Tl 2, 6-17). Israel đã không vượt qua được thử thách vì sự bất trung (1V17, 16-18). Họ đã đặt niềm tin vào những tượng thần (Gr 2,5; Hs 2, 10-15), áp bức người nghèo (Am 3, 9-10), cậy dựa vào ngoại bang (Is 36, 14-18; Gr 1, 14-19)[40]. Chính bởi thế Thiên Chúa đưa ra một đoán phạt mới tương xứng là hình phạt lưu đày. Những bách hại cộng với sự yếu đuối của dân khiến họ nghi ngờ, không biết Thiên Chúa có hoàn tất lời hứa hay không hơn là tin tưởng vào sự trung tín với giao ước của Ngài. Như vậy, dù trong toàn Israel chỉ thấy những bất trung, lỗi phạm thì trong đó cũng có những người đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chúc phúc, ban sức mạnh để vượt qua thử thách.

  1. 4 Ông Gióp chịu thử thách (G 1, 6-12; 2, 1-7)

Giống như Abraham, Gióp hết lòng vì Đức Chúa (x. G 1,1). Đức Chúa đã ban bao phúc lành cho ông: giàu có, nhiều con cái, của cải (G 1, 2-3). Nhưng Đức Chúa đã đặt Gióp vào thử thách đau đớn để thử lòng trung thành và sự công chính của ông. Có thể nói rằng: “hành trình đức tin của Gióp chỉ thực sự có ý nghĩa khi đặt Gióp đối diện với những thử thách và trở ngại”[41]. Những thử thách đó càng làm sáng tỏ hơn đích điểm mà Gióp muốn vươn tới nhưng dường như nó cũng xô đẩy Gióp ngã quỵ giữa vũng lầy của khổ đau bất hạnh. Thế nhưng, Gióp vẫn giữ được sự trung thành, bởi ông có đủ niềm tin và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Trước hết, Thiên Chúa cho phép Satan tấn công Gióp. Thiên Chúa chấp nhận thử thách cho Gióp vì muốn mạc khải trong những người thánh thiện. Ở đây, “Satan không cám dỗ Gióp phạm tội, không cám dỗ Thiên Chúa làm điều bất công, nhưng là thử thách niềm tin chân thực và sự liêm khiết của Gióp”[42]. Thử thách đầu tiên là Satan tước đoạt hết tất cả của Gióp (G 1, 13-19). Chỉ trong một ngày, bốn tai họa đã giáng xuống Gióp làm thất bại bốn lời chúc phúc ban đầu: mất đàn súc vật, những đầy tớ bị giết chết và ngay cả những người con cũng không còn. Thế nhưng thái độ của Gióp thật đáng khiến chúng ta phải bất ngờ. Ông đã nhìn nhận đau khổ với nguồn gốc thánh thiêng, chấp nhận con người yếu hèn, trần truồng. Ông đáp trả theo lẽ khôn ngoan: chúc tụng thay vì nói xấu, từ chối Thiên Chúa. Bởi thế, ông đã hoàn toàn đi ngược với những gì Satan mong ước[43].

Khi thấy Gióp vẫn kiên tâm trong thử thách, Satan khích Thiên Chúa làm hại Gióp mạnh hơn. Satan nghi ngờ con người sẽ hết trung tín nếu như bị chạm đến thân xác. Thiên Chúa đã đồng ý với thử thách mà Satan đưa ra (G 2, 1-13) nhưng giới hạn bằng cách tôn trọng mạng sống của Gióp. Vậy là Gióp bị ung nhọt, lở loét đau đớn từ đầu đến chân. Tình trạng của ông còn tồi tệ hơn nữa khi vợ ông thúc giục ông nguyền rủa Chúa và chết đi. Vợ Gióp đại diện cho nhân loại không chấp nhận đau khổ. Theo bà, “cách duy nhất để chấm dứt đau khổ là chối từ Thiên Chúa”[44]. Rồi đến cả ba người bạn của ông, bề ngoài có vẻ cảm thông, nhưng lại vẫn muốn an ủi Gióp hầu đưa những lý do làm thay đổi suy nghĩ của Gióp.

Quả thật, những thử thách kéo dài làm ông mất kiên nhẫn. Ông phải sống cái kinh nghiệm nghịch lý. Chính lúc này, cơn hấp hối của ông bắt đầu và cuộc cãi vã thật dai dẳng và đau thương với chính mình, với người khác và với Thiên Chúa nổ ra. Có thể nói, Gióp như chỉ biết quay cuồng, gào thét trong một bức tường vây quanh bị Thiên Chúa nhốt (G 3,24) như một con vật hoang dã[45]. Tuy nhiên, Gióp vẫn kiên tâm, bất chấp mọi đau khổ, mất mát, tuyệt vọng, không rơi vào lời nói phạm thượng gây nên tội. Gióp vẫn trung thành. Bởi thế, thử thách thứ hai này cũng quay về vinh quang Thiên Chúa như xảy ra trong lần thứ nhất. Gióp được chữa lành, được khôi phục những gì đã mất và Thiên Chúa còn gia tăng gấp đôi tất cả những gì Gióp đã có (G 24, 7-17).

  1. Những thử thách, cám dỗ trong Tân Ước

Tình trạng cám dỗ, thử thách cũng không mờ nhạt trong các trang Tân Ước. Ngay khi Thiên Chúa tỏ bày kế hoạch của Ngài cho ông Dacaria, thánh Giuse và Đức Maria, tất cả những người này đều bị thử thách đức tin vào Thiên Chúa (Lc 1,20; 35-39; Mt 1,19)[46]. Ta cũng thấy việc ông Giuda bị cám dỗ phản bội Đức Giêsu để lấy 30 đồng bạc (Mt 26, 14-16), còn Phêrô bị cám dỗ chối Chúa 3 lần trước khi gà gáy (Mt 26, 69-75). Và chính Đức Giêsu là người trải qua nhiều cám dỗ và thử thách nhất. Các kinh sư và người Pha-ri-sêu thường thử thách Đức Giêsu trong lời nói và việc làm để thấy sự bất trung của Người với lề luật (Mc 8,11; Lc 11,16). Nhưng, sự cám dỗ, thử thách lớn lao với Ngài có lẽ là trong hoang địa và trong cuộc khổ nạn.

  1. 1 Đức Giêsu chịu cám dỗ trong hoang địa (Mt 4, 1-11)

Sau khi chịu phép rửa tại sông Giordan (Mt 3, 13-17), Thần Khí đã dẫn Đức Giêsu vào hoang địa và chịu cám dỗ. Thánh Mathew như muốn trình bày việc chịu cám dỗ của Đức Giêsu giống với kinh nghiệm của Israel xưa trong sa mạc. Như thế, chính Đức Giêsu là hiện thân của Israel, Ngài hoàn tất mọi hy vọng của Israel. Giống như Israel xưa, Đức Giêsu cũng chịu đói, bị cám dỗ khẳng định mình và thờ ngẫu tượng. Tuy nhiên, nếu trước kia Israel đã thất bại với các thử thách thì nay Đức Giêsu toàn thắng mọi cám dỗ của ma quỷ. Ngài cho thấy hình ảnh hoàn hảo của Con Thiên Chúa[47].

Sau thời gian chay tịnh 40 ngày, Chúa Giêsu cảm thấy đói. Không bỏ lỡ cơ hội, ma quỷ đã đến cám dỗ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hóa bánh đi” (Mt 4,3). Có thể lắm chứ, vì xưa Israel gặp cơn đói, đã kêu trách Thiên Chúa và Thiên Chúa đã ban cho họ mana (Xh 16; Ds 11). Mà đây, Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chẳng lẽ Ngài không có quyền năng để biến những viên đá thành bánh ăn sao?[48] Chẳng lẽ Ngài không thể sử dụng quyền Thiên Chúa để thỏa mãn các nhu cầu “chính đáng” của con người sao? Ở đây, quỷ sử dụng từ “nếu” nhằm gieo sự hoài nghi vào tâm trí Đức Giêsu, quỷ muốn xúi giục Đức Giêsu nghi ngờ và bất phục tùng Thiên Chúa. Như thế, cám dỗ thứ nhất này không đơn giản là hóa đá thành bánh, nhưng cám dỗ thực sự đây là “hoài nghi chính bản tính và sứ mạng của Ngài”[49].

Không những vậy, quỷ còn như muốn giễu cợt Đức Giêsu phải chứng minh về mình đi, phải làm nhiều phép lạ để đập tan mọi mập mờ và mâu thuẫn về Người, phải làm sao để mọi người thấy Ngài là Con Thiên Chúa[50]. Tuy nhiên, Đức Giêsu dứt khoát dựa vào Kinh thánh để nói “không” với ma quỷ. Ngài đã dùng chính lời Thiên Chúa nói với Israel khi họ chịu cám dỗ: “người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra” (Đnl 8,3). Đức Giêsu muốn cho thấy vâng phục ý Cha là lương thực của Ngài (Ga 4,34) và nó phải được ưu tiên hơn sự thỏa mãn ý mình, ngay cả khi đó là nhu cầu cần thiết.

Thua keo này, bày keo khác, quỷ đưa Đức Giêsu lên nóc Đền thờ và đề nghị: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Mt 4,6). Quỷ tỏ ra là người nắm vững Kinh Thánh khi đã trích câu thánh vịnh 91,11 để nói về sự che chở của Thiên Chúa dành cho những người tin. Cám dỗ này cũng liên hệ với kinh nghiệm của Israel khi ở Ma-xa, dân khát nước và kêu trách Thiên Chúa (Xh 17,1-7; Ds 14,22; Đnl 6,16). Thử thách này chính là cám dỗ để tạo nên những thành tích gây ấn tượng mạnh, làm cho dân phục sát đất, nhưng sâu xa hơn đó là “áp đặt ý muốn của con người cho Thiên Chúa”[51], “buộc Thiên Chúa phải làm phép lạ”[52]. Tuy nhiên, Đức Giêsu vẫn dứt khoát: “ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi” (Mt 4,7). Người không ép Thiên Chúa phải can thiệp, nhưng tin tưởng, tín thác, vâng phục vào Thiên Chúa. Như vậy, có thể nói rằng cuộc trao đổi giữa Đức Giêsu và ma quỷ giống như cuộc tranh luận giữa hai học giả về việc diễn giải Kinh Thánh sao cho đúng, nhưng quan trọng hơn đó là cuộc tranh luận để xem ai là Thiên Chúa[53]. Và chính Đức Giêsu đã một lần nữa xác định tư cách “Con Thiên Chúa” của mình.

Một lần nữa thua cuộc, nhưng ma quỷ vẫn chưa chịu tháo lui mà còn cố gắng chinh phục Đức Giêsu lần thứ ba. Lần này, không còn chút che đậy nào nữa, quỷ cho Đức Giêsu thấy tất cả vinh hoa lợi lộc thế gian, nhưng với điều kiện “sấp mình bái lạy tôi” (Mt 4,9). Với cám dỗ quyền lực và danh vọng này, quỷ muốn Chúa Giêsu sẽ là nhà lãnh đạo chính trị ở trần gian bằng việc sử dụng những phương tiện xấu xa: bạo lực, tham ô, mưu đồ… Hơn nữa, cám dỗ này cũng làm chúng ta liên tưởng tới Israel đã trải qua cám dỗ nghiêm trọng nhất để chạy theo tà thần: con bê vàng (Xh 32), các thần của xứ Canaan (Xh 23,20; 34,11). Đó chính là cám dỗ muốn “tự tạo cho mình một thần linh mà mình điều khiển”[54]. Tuy nhiên Đức Giêsu đã chống lại lời mời gọi thờ phượng quyền lực bằng một lời trong Dnl: “Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi và phải thờ phượng một mình Người mà thôi” (Mt 4,10; Dnl 6,13). Quả thật, Thiên Chúa không phải là Đấng mà ta có thể mặc cả, Ngài đòi hỏi tin tưởng và phục vụ vô điều kiện.

Ba lần tấn công đều đã thất bại, ma quỷ đành rút lui để chờ dịp khác (Lc 4,13). Như thế, những cơn cám dỗ của Satan vẫn tiếp tục theo đuổi Đức Giêsu trong suốt cuộc đời. Ngay cả lúc chịu đánh đòn, bị treo trên thập giá và khi sắp thở hơi cuối cùng, ma quỷ vẫn không chịu buông tha Ngài.

  1. 2 Đức Giêsu chịu thử thách trong cuộc khổ nạn

Tại Ghet-se-ma-ni, vào cuối con đường, Đức Giêsu phải đối diện với thử thách kinh hoàng. Các tác giả Tin mừng nói Người lo âu (Mc 14, 33), buồn bã (Mc 14, 34) và sợ hãi, đến nỗi mồ hôi toát mồ hôi toát ra như những giọt máu (Lc 22, 44). Có thể thấy thảm kịch diễn ra tại Ghet-se-ma-ni là “tấn thảm kịch của một người cô đơn”[55]. Sự đơn độc hiu quạnh là khi không tìm ra một bóng người để đem lại một vài chỉ dẫn, ý kiến; đó cũng là khi không có được một người hiểu, không có một người để đứng bên cạnh. Bởi thế, Đức Benedicto XVI cũng đã diễn tả: “Nơi đây, Đức Giêsu đã trải qua kinh nghiệm cô đơn tận cùng, khốn khó tận cùng của kiếp người. Nơi đây, đáy vực tội lỗi và hố thẳm sự dữ đã thấm vào tận cùng tâm hồn Người. Nơi đây, Người đã đụng chạm với sự chết. Nơi đây, kẻ phản bội đã hôn Người, các môn đệ đã bỏ Người”[56].

Các môn đệ được coi là gần gũi Đức Giêsu nhất, thì ngay lúc này, họ lại đang ngủ. Họ hoàn toàn không hiểu được cơn thử thách mà Đức Giêsu đang phải trải qua. Đó như sự chai đá tâm hồn, không còn nhạy bén, vô cảm. Bởi thế, Chúa Giêsu đã thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn chết được… Anh em không canh thức nổi với Thầy một giờ sao?” (Mt 26, 38-40). Sau đó Ngài sấp mình cầu nguyện.

Một câu hỏi được đặt ra lúc này với Chúa Giêsu cách quyết liệt: cứu mạng sống mình hay chấp nhận mất đi, theo ý mình hay ý Thiên Chúa? Người nói: “Áp-ba Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con…”, rồi tận đáy lòng, Đức Giêsu nói tiếp: “Nhưng xin đừng theo ý con, mà theo ý Cha” (Mc 14, 36). Như có sự đối lập giữa hai ý muốn của lời cầu: một bên là “ý muốn tự nhiên” của con người Giêsu, mong sao cho nỗi kinh hoàng kia đừng tới, sao cho chén đắng mau qua. Và một bên là “ý muốn của Người Con”, sẵn sàng đón nhận mọi ý muốn của Cha. Nhưng Đức Giêsu đã ý thức được sứ mạng xuống thế của mình là cho giờ phút này, nên đã thốt lên lời cầu thứ hai – mong cho danh Chúa được cả sáng[57]. Như vậy, trong lời cầu này, ta thấy kinh ngiệm thâm căn về nỗi rúng động trước mọi quyền lực phá hoại, sự dữ, chống đối như đang lao trực tiếp vào Người và bắt Người phải nhận lấy. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã hiến toàn thân trong tình yêu cho Thiên Chúa bằng sự vâng phục. Người đã hoàn toàn tự do để đón nhận tất cả từ Thiên Chúa. Và ngay lúc đó, Đức Giêsu bị bắt.

Từ khi bị bắt đến khi chịu đóng đinh, Đức Giêsu không ngừng bị nhục mạ[58]. Đó là những người qua đường, họ nhạo Người: “Ê, mi là kẻ phá Đền Thờ, và nội trong ba ngày xây lại được, có giỏi thì xuống khỏi thập giá mà cứu mình đi!” (Mc 15, 29-30). Những người này muốn Đức Giêsu thấy được sự khinh ghét của họ và nhận ra nối bất lực của mình. Đồng thời, họ muốn cám dỗ Người hãy tự cứu mình đi, hãy dùng quyền năng đi… Không dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn bị những thành viên của Thượng Hội đồng nhạo báng. Đó là các luật sĩ, tư tế và trưởng lão. Họ dùng lời Kinh thánh để phỉ báng Đức Giêsu: “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền!” (Mt 27, 42; Kn 2,18). Nhưng Đức Giêsu bỏ qua những lời thách thức của những tên nhạo báng như thế. Người biết rằng, chính Thiên Chúa sẽ cứu Người, nhưng cứu một cách khác, không theo như kiểu suy nghĩ của những người đang tụ họp ở đây. Và cuối cùng, khi đã bị treo trên thập giá, đến người tử tội cũng nhạo báng Đức Giêsu, nhưng Người không hề quan tâm.

Tuy nhiên, vào giờ thứ 9, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Chúa ơi, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27, 40; Mc 15, 34). Lời cầu nguyện kêu xin lớn tiếng của Đức Giêsu như diễn tả tình trạng cô độc của Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa. Người đang đối diện với những nhục mạ công khai, những nhạo báng, lắc đầu của đám đông, cơn đau, cơn khát cháy bỏng, chân tay bị đinh xuyên thấu, áo bị bắt thăm… cuối cùng là thảm trạng cái chết. Vì lý do đó mà Người khóc than cùng Chúa Cha. Karl Rahner cũng đã suy tư: “Đức Giêsu đã thực hiện sứ mạng cao cả như không thể vượt qua được. Đến độ mà chính sứ mạng ấy có vẻ như bị kết liễu trong sự im lặng của cái chết. Vị Thiên Chúa trên thập giá bị bạn hữu phản bội, bỏ rơi, bị dân tộc của Người kết án, bị cộng đồng tôn giáo của Giao ước cũ loại trừ. Và chính khoảnh khắc mà Người đón nhận cái chết thảm khốc, Người cũng bị Thiên Chúa bỏ rơi”[59]. Chẳng lẽ Thiên Chúa quyền năng không can thiệp vào biến cố đau thương của Con mình. Lúc này, Đức Giêsu như bị đóng đinh giữa trời và đất, đau đớn cực độ vì cả trời lẫn đất đều bỏ rơi. Ngài bị thử thách lòng tin: Thiên Chúa ở đâu? Tại sao Ngài im lặng? Thế nào là đường lối của Thiên Chúa?

Kinh thánh cho thấy Thiên Chúa là Đấng ưa ẩn mình và nhiều lần trong cuộc đời chúng ta qua những nơi sương mù dày đặc hơn là những nơi chan hòa ánh sáng và Thiên Chúa xem ra như ở xa và im lặng[60]. Sự im lặng là không có tiếng nói, nhưng nó cũng là một cách thức để nói. Vì thế, trong biến cố này, sự im lặng không có nghĩa là Thiên Chúa đang vắng mặt. Bởi Đức Benedicto chia sẻ: “Thiên Chúa nói qua sự im lặng… Người hiện diện và lắng nghe, ngay cả trong đêm đen của đau khổ, bị khước từ và cô đơn”[61]. Như thế, sự im lặng của Chúa Cha không có nghĩa là sự bỏ rơi, nhưng là cuộc gặp gỡ thực sự, cuộc gặp gỡ trong thinh lặng của Cha với Con yêu dấu.

“Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” chính là một tiếng kêu đầy sợ hãi và bối rối của Đức Giêsu, tiếng kêu của người bị dồn vào ngõ cụt cuộc đời. Nhưng sâu xa hơn, lời kêu cầu này còn diễn tả một niềm tin mãnh liệt của Chúa Giêsu. Chính trong hoàn cảnh tưởng chừng vắng bóng Thiên Chúa, Đức Giêsu luôn hướng nhìn đến Thiên Chúa. Dù bước đi trong sự hoài nghi và sợ hãi, nhưng chính Người đã xuyên qua đó để đi vào chiều sâu của niềm tin vào Thiên Chúa[62] .

Như vậy, hai biến cố xảy ra vào đầu và cuối cuộc đời Đức Giêsu cho thấy Người đã phải trải qua những thử thách, cám dỗ lớn lao và cũng thấy được nơi đó một sự tin tưởng, vâng phục hoàn toàn. Tuy nhiên, cũng có những người – vì muốn đề cao sự thánh thiện của Đức Giêsu nên giải thích Đức Giêsu chịu cám dỗ chỉ vì mục đích sư phạm, làm gương cho chúng ta, chứ Người đã biết hết mọi sự và chắc chắn sẽ vượt qua được. Nhưng, sự kiện ấy chỉ mang giá trị khi các chước cám dỗ xảy ra đích thực. Đức Giêsu không “đóng kịch”, nhưng đích thực đã sống thân phận như một con người như chúng ta. Bởi Người giống chúng ta mọi đàng, ngoại trừ tội lỗi, nên Người cũng phải chịu thử thách, cám dỗ như chúng ta[63]. Như vậy có thể khẳng định: Chính Đức Giêsu là mẫu mực cho mọi Kitô hữu trong việc sống và thi hành ý Chúa Cha trong mọi cơn thử thách của cuộc sống.

Việc Đức Giêsu chịu cám dỗ, thử thách đã để lại cho chúng ta nhiều bài học trong thử thách, cám dỗ của chính mình. Thứ nhất, Đức Giêsu có tình yêu và sự tin cậy tuyệt đối với Thiên Chúa. Ngài luôn thể hiện sự quyết tâm không lay chuyển để làm vui lòng Cha trên trời bằng sự vâng phục hoàn toàn. Thứ hai, trong cám dỗ nơi hoang địa, Đức Giêsu tỏ ra là người am hiểu Kinh thánh sâu sắc và Ngài không bao giờ chấp nhận đàm phán, đối thoại, nhượng bộ với ma quỷ. Và điều thứ ba rất quan trọng là Đức Giêsu không dựa vào sức mạnh hay sự khôn ngoan của chính mình, nhưng Chúa Thánh Thần luôn ban quyền năng để giúp Ngài để chống lại thử thách, cám dỗ.

  1. Những thử thách, cám dỗ của Giáo hội và mỗi tín hữu

Giáo hội được sinh ra từ thử thách của Đức Kitô nên con đường mà Giáo hội phải theo không thể khác với đường của Đức Kitô (2Tm 2,9). Quả thật, “Giáo hội là nơi thử thách, là nơi mà bách hại sẽ củng cố lòng trung thành và cũng là nơi con người khi thoát khỏi nghịch cảnh đã được tôi luyện”[64]. Giáo hội bị thử thách sẽ lột mặt nạ kẻ dụ dỗ, tên vu khống, bằng cách làm chứng cho Chúa Thánh Linh. Như thế, Giáo hội xuất hiện đồng thời vừa bị thử thách vừa được cứu thoát (Dn 12,1; Kh 3,10) và thử thách sẽ đạt tới cao điểm nơi sự tử đạo. Bởi vậy, thử thách chính là thân phận của Giáo hội còn phải được tinh luyện tuy đã trong sạch, còn phải canh tân tuy đã hiển vinh.

Sống trong Giáo hội chịu thử thách, đời sống Kitô hữu cũng gắn liền với thử thách như vậy. Nó là điều kiện để được sống trong Đức Kitô (2Tm 3,12), để tăng trưởng (Lc 8,13), để nên vững mạnh (1Pr 1,6), để chân lý được biểu lộ (1Cr 11,19), để khiêm nhượng (1Cr 10,12)[65]. Người Kitô hữu luôn bị đặt trước thách đố tối hậu là tin vào sức mạnh cứu độ nhờ cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô (Mc 16,16; Lc 10, 13-16). Hơn nữa, Satan không ngừng tìm cách dụ dỗ con người chối bỏ Đức Kitô và phạm tội (1Cr 2,11). Con người luôn bị giằng co giữa tính xác thịt và Thần Khí (Rm 5,3; 2Cr 6, 4-10). Tuy nhiên, trong cuộc chiến đấu này, Thiên Chúa sẽ ban ân sủng đủ để chiến thắng tội lỗi: “Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em lại vượt quá sức loài người. Thiên Chúa là Đấng trung tín: Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức; nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng” (1Cr 10,13)[66].

Kết luận

Quả thật, thử thách là chìa khóa để phát triển đức tin mạnh mẽ hơn. Nó cũng minh chứng những phúc lành lớn lao mà Thiên Chúa đổ tuôn trên những ai tin cậy và vâng lời Người. Đồng thời, thử thách cũng là con đường dẫn tới Thiên Chúa ngang qua những ý định của Người. Có biết bao nhân chứng đã chịu sự thử thách, cám dỗ trong suốt lịch sử cứu độ: Adam và Eva, Abraham, Gióp… Nhưng tất cả các khía cạnh của sự thử thách (đức tin, lòng trung tín, sự hy vọng và tự do) đều quy tụ trong Đức Giêsu. Và nó cũng được tiếp tục trong Giáo hội và nơi mỗi Kitô hữu, ngõ hầu được hoàn tất trong sự khai sinh một vũ trụ mới (Rm 8, 18-25)[67]. Và thử thách chỉ có ý nghĩa nơi cuộc giao tranh cánh chung.

[1] Gm Vũ Văn Thiên, “Cám dỗ”, (Ngày 12/03/2011), https://tgpsaigon.net/bai-viet/cam-do-40512

[2] X, T. A. Tarrants, “temptation-and-testing”, 05/09/2018, https://www.cslewisinstitute.org/resources/temptation-and-testing/

[3] X, Lm Inhaxia Hồ Văn xuân, “cám dỗ theo thánh kinh”, 1/3/2023, https://tgpsaigon.net/bai-viet/cam-do-theo-kinh-thanh-68236

[4] X. “Temptation”, https://www.encyclopedia.com/religion/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/temptation-bible

[5] Như Ý chủ biên, “Từ điển Tiếng Việt thông dụng”, trang 1108.

[6] Ibid, trang 143.

[7] X, HDGMVN, “Từ điển Công giáo”, trang 332, 41.

[8] X, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo. Hà Nội: NXB Tôn giáo, số 538.

[9] Lm Inhaxia Hồ Văn xuân, “cám dỗ theo thánh kinh”, https://tgpsaigon.net/bai-viet/cam-do-theo-kinh-thanh-68236

[10] X, Thomas A. Tarrants, “temptation-and-testing”,https://www.cslewisinstitute.org/resources/temptation-and-testing/

[11]Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, Giáo hoàng học viện Pio X, Đà Lạt, 1976.

[12] Ibid.

[13] X, MSNR Charles, “primer on temptation”, 22/03/2015, https://blog.adw.org/2015/03/primer-on-temptation/

[14] X, Thomas A. Tarrants, “temptation-and-testing”,https://www.cslewisinstitute.org/resources/temptation-and-testing/

[15] X, Mục sư Ng Duy Thắng, “cám dỗ”, 11/2/2014, https://vuongquocducchuatroi.net/nen-tang-le-that-bai-22-thu-thach/

[16] X, Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, 1976.

[17] X, Thomas A. Tarrants, “temptation-and-testing”,https://www.cslewisinstitute.org/resources/temptation-and-testing/

[18] X. Michael Maher, “Genesis”, 1987, p 42.

[19] X. Ibid.

[20] Lm Vinh Sơn Mai Văn Kính, “Sáng thế”, NXB Đồng Nai, 2022, trang 24.

[21] ĐCV Hà Nội, “Bộ Ngũ thư”, lưu hành nội bộ, trang 84.

[22] Ibid.

[23] X. Ibid, trang 86.

[24] X, Thomas A. Tarrants, “temptation-and-testing”,https://www.cslewisinstitute.org/resources/temptation-and-testing/

[25] ĐCV Hà Nội, “Bộ Ngũ thư”, lưu hành nội bộ, trang 151.

[26] Lm Vinh Sơn Mai Văn Kính, “Sáng thế”, NXB Đồng Nai, 2022, trang 89-90.

[27] X. Ibid, trang 90-91.

[28] X. Lm Hồ Thông, “Thiên Chúa thử lòng ông Abraham”, http://gpbanmethuot.com/hoc-hoi-kinh-thanh/thien-chua-thu-long-ong–ap-ra-ham-47602.html

[29] Ibid.

[30] Lm Vinh Sơn Mai Văn Kính, “Sáng thế”, NXB Đồng Nai, 2022, trang 92.

[31] X. Lm Hồ Thông, http://gpbanmethuot.com/hoc-hoi-kinh-thanh/thien-chua-thu-long-ong–ap-ra-ham-47602.html

[32] Lm Vinh Sơn Mai Văn Kính, “Sáng thế”, NXB Đồng Nai, 2022, trang 93.

[33] Ibid, trang 93-94.

[34] Ibid, trang 94-95.

[35] X. Michael Maher, “Genesis”, 1987, p 132.

[36] Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, 1976.

[37] Lm Vinh Sơn Mai Văn Kính, “Xuất hành”, NXB Tôn Giáo, 2023, trang 162.

[38] Ibid, trang 168.

[39] X. Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, 1976.

[40] X. Lm Inhaxia Hồ Văn xuân, “cám dỗ theo thánh kinh”, https://tgpsaigon.net/bai-viet/cam-do-theo-kinh-thanh-68236

[41] J.B Nguyễn Quốc Tuấn, “Hành trình đức tin của ông Gióp”, 21/02/2019, https://dcvphanxicoxavie.com/vn/Kinh-Thanh-Phung-Vu/Hanh-Trinh-Duc-Tin-Cua-Ong-Giop.html

[42] Lm Lê Phú Hải, “Gióp, chuyện người vô tội đau khổ”, NXB Đồng Nai, 2020, trang 51.

[43] X. Ibid, trang 52-57.

[44] Ibid, trang 61.

[45] X. Daniel Foucher, “Gióp và huyền nhiệm sự dữ”, 2005, trang 58.

[46] X. “Temptation”, https://www.encyclopedia.com/religion/encyclopedias-almanacs-transcripts-and-maps/temptation-bible

[47] X. Lm Hồ Thông, http://gpbanmethuot.com/hoc-hoi-kinh-thanh/thien-chua-thu-long-ong–ap-ra-ham-47602.html

[48] X. Lm Fx Vũ Phan Long, “Các bài Tin mừng Mathew dùng trong phụng vụ”, NXB Đồng Nai, 2021, trang 90.

[49] Lm Vũ Văn Tự Chương, “Suy niệm Tin mừng theo thánh Mathew”, NXB Tôn Giáo, 2014, trang 27.

[50] X. Joseph Ratzinger, Phạm Hồng Loan dịch, “Đức Giêsu ở Nazareth”, NXB Tôn Giáo, 2023, trang 52.

[51] Lm Fx Vũ Phan Long, “Các bài Tin mừng Mathew dùng trong phụng vụ”, NXB Đồng Nai, 2021, trang 91.

[52] Norberto Nguyễn Văn Khanh, “Đức Giêsu Kitô Ngôi Lời nhập thể” NXB Đồng Nai, 2019, trang 290.

[53] X. Joseph Ratzinger, Phạm Hồng Loan dịch, “Đức Giêsu ở Nazareth”, NXB Tôn Giáo, 2023, trang 59-61.

[54] Lm Fx Vũ Phan Long, “Các bài Tin mừng Mathew dùng trong phụng vụ”, NXB Đồng Nai, 2021, trang 92.

[55] Lm Vũ Văn Tự Chương, “Suy niệm Tin mừng theo thánh Mathew”, NXB Tôn Giáo, 2014, trang 216.

[56] Joseph Ratzinger, Phạm Hồng Loan dịch, “Đức Giêsu ở Nazareth”, NXB Tôn Giáo, 2023, trang 559.

[57] X. Ibid, trang 564 – 566.

[58] X. Ibid, trang 617 – 620.

[59] Trích lại, Phạm Ngọc Thế, “Sứ điệp không thể lãng quên”, NXB Phương Đông, 2016, trang 188.

[60] X. Lm Vũ Văn Tự Chương, “Suy niệm Tin mừng theo thánh Mathew”, NXB Tôn Giáo, 2014, trang 237.

[61] Trích lại, Phạm Ngọc Thế, “Sứ điệp không thể lãng quên”, NXB Phương Đông, 2016, trang 190.

[62] X. Ibid, trang 195.

[63] X. Norberto Nguyễn Văn Khanh, “Đức Giêsu Kitô Ngôi Lời nhập thể” NXB Đồng Nai, 2019, trang 287.

[64] Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, 1976.

[65] X. Ibid.

[66] X. Lm Inhaxia Hồ Văn xuân, “cám dỗ theo thánh kinh”, https://tgpsaigon.net/bai-viet/cam-do-theo-kinh-thanh-68236

[67] X. Jco, “Thử thác/cám dỗ”, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, 1976.

                                                                                                                                                      — Mary Magdalene, C.M.R —