Dẫn nhập
Thánh Kinh không đơn giản là một sưu tập riêng biệt mà là cuốn sách kể về một câu chuyện duy nhất. Đó là câu chuyện tình yêu Thiên Chúa đối với dân Ngài. Nếu đọc Thánh kinh như “cuốn sách giao ước”, chúng ta thấy rằng với mỗi giao ước, Thiên Chúa mạc khải tiệm tiến về chính mình Ngài và thêm một chút về mối quan hệ mà Ngài muốn có với con người[1]. Tuy nhiên, nếu nhìn cách tổng thể chúng ta cũng dễ dàng nhận ra “lịch sử các giao ước nói lên lòng yêu thương của Thiên Chúa bao nhiêu thì cũng bộc lộ sự bất trung, tội lỗi của con người bấy nhiêu”[2]. Thế nhưng, Thiên Chúa không chịu thua, tình yêu của Ngài là nhưng không, tình yêu đó luôn đi bước trước. Ngài đã không hủy diệt con người mà còn hứa ban Đấng Cứu Độ đến giải thoát con người khỏi tình trạng tội lỗi và cho họ được giao hòa cùng Người.
Lời hứa cứu độ đó đã được Thiên Chúa ký kết qua giao ước với Adam, với Noe, với Abraham, với Mose, với David… Rồi sau đó, các ngôn sứ, tiêu biểu là ngôn sứ Gieremia, không ngừng loan đi nhắc lại những giao ước đó trong suốt dòng lịch sử để khuyên dạy, răn đe dân biết sống xứng đáng là dân Thiên Chúa. Và chính ông cũng tiên báo một giao ước mới (Gr 31, 31 – 34), mà sau này giao ước mới đó sẽ đi đến mức tuyệt đỉnh nơi Đức Giêsu Kitô.
Trong khuôn khổ bài viết này, người viết sẽ sơ lược lại hành trình giao ước giữa Thiên Chúa và con người qua lịch sử cứu độ, thấy được những điểm mới mẻ trong giao ước mà Gieremia tiên báo. Và đặc biệt là hiểu rõ Giao Ước Mới được thiết lập trong máu Đức Giêsu Kitô. Để có được cái nhìn bao quát và xuyên suốt, chúng ta sẽ khởi đi từ việc hiểu Giao ước là gì?
Phần một: Giao ước là gì?
“Giao ước”, tiếng Latinh là Convenire (nghĩa là đến với nhau hoặc đồng ý), đây cũng là cách gọi mà thần học và phụng vụ sử dụng[3], tiếng Hipri, giao ước dùng danh từ “Berith” có nghĩa gốc là sự cắt. Nghi lễ kết ước có liên quan đến việc cắt đôi con vật (St 15; Gr 34, 18-19); hay còn có nghĩa là lễ cắt bì. Tiếng Hy lạp ở những thế kỷ III TCN, người ta dùng một tiếng tương đương là Diatheke mang ý nghĩa di chúc, chứng thư của người quá cố để lại[4]. Xét theo từ ngữ, “giao” là có mối quan hệ với nhau, “ước” là những quy định để hai bên chiếu theo đó mà thực hiện[5]. Như vậy, hiểu cách đơn giản thì giao ước là những “cam kết với nhau về những điều mà mỗi bên sẽ làm”[6] hoặc những gì mà tôi chấp nhận hay tôi áp đặt cho người khác[7], nó cũng sẽ bao gồm quyền lợi, trách nhiệm và chế tài liên quan.
Trong Kinh Thánh, giao ước là một đề tài quan trọng và là chủ đề chính yếu của nội dung đức tin Kitô giáo, do đó cung cấp một “chìa khóa cho toàn thể Thánh Kinh”[8]. Từ “giao ước” đã được xuất hiện hơn 300 lần trong Thánh kinh[9]. Chúng ta có thể thấy những “giao ước được thiết lập giữa những nhóm người hay những cá nhân với nhau”[10], ví dụ như giao ước giữa Abraham với vua Avimelec (St 21, 22-34), giao ước giữa dân Israel với dân Sikhem (St 34) … Cũng có những “giao ước giữa Thiên Chúa với dân của Ngài”[11]. Trong giao ước này, vì yêu thương, Thiên Chúa đã hạ mình xuống ngang hàng với con người, “Thiên Chúa đã tự trói mình với con người”[12], “Ngài đưa con người vào một mối tương quan diệu kì, tương quan gia đình”[13].
Trong niềm tin tôn giáo của Israel, giao ước còn mang nghĩa dân được ràng buộc vĩnh viễn và không thể bị phá vỡ với Thiên Chúa; Ngài luôn biểu lộ tình yêu và lòng thương xót cho dân; Ngài ban những giới luật để hướng dẫn dân; vì thế dân phải phụng thờ, trung thành và vâng phục Thiên Chúa[14]. Tóm lại, ý niệm giao ước trong Kinh thánh luôn gắn liền với hình ảnh của sự sống là máu. Do đó, “Giao ước” không phải là một bản hợp đồng đối tác, nhưng đó là một ân hồng ân, nhưng là “một hành vi sáng tạo của tình yêu Thiên Chúa”[15]. Hơn nữa, Thiên Chúa, Vua Cao Cả, không nhận gì từ con người, nhưng trong khi ban bố luật pháp của mình cho con người, Ngài ban cho con người con đường sự sống. Bởi vậy giao ước là dấu ấn – dấu chứng biểu lộ tình yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa, nó còn là lời cam kết biểu lộ lòng trung tín và dạ xót thương của Người[16].
Phần hai: Những Giao ước trong Thánh kinh
Trong ý định yêu thương của Thiên Chúa, Người luôn muốn tỏ mình cho con người và có sáng kiến kết thân với họ. Người đã tỏ mình qua các Tổ phụ, qua Mose và các ngôn sứ, rồi sau cùng qua chính Con Một của người là Đức Giêsu Kitô. Sự tỏ mình qua các thời đại đó được thực hiện cụ thể bởi các giao ước[17]. Trong Thánh kinh, chúng ta thấy có năm giao ước đáng để ta quan tâm:
Chúng ta có thể đọc thấy ý định và ước muốn giao ước của Thiên Chúa ngay ở những trang đầu của Thánh Kinh. Đó chính là giao ước với Adam, giao ước này có thể được chia làm hai phần: Giao ước vườn Eden và Giao ước Adam. Nơi giao ước vườn Eden (St 2, 16-17), Thiên Chúa đưa ra chỉ dẫn về cây biết điều thiện điều ác, nhưng xa hơn, Thiên Chúa muốn cho Adam thấy hạnh phúc địa đàng không lệ thuộc vào những gì sẵn có mà là vâng lời hay không?[18]. Còn trong giao ước Adam thì trái ngược lại, đó là những lời rủa sả tuyên bố chống lại loài người vì tội lỗi của Adam và Eva (St 3,5).
Sau sự phá vỡ giao ước của Adam và tội lỗi con người qua các thế hệ, thì lần đầu tiên trong sách thánh nói về giao ước minh nhiên giữa Thiên Chúa và con người, đó chính là giao ước với ông Noe (St 8,20 – 9,17). Chúng ta nhận thấy giao ước này được ký kết sau một loạt thái độ vâng lời và đáp trả cụ thể của ông Noe với Lời và thánh ý Thiên Chúa. Ông là Adam mới hoàn toàn vâng lời[19]. Nếu Hồng thủy là sự trở lại hỗn mang ban đầu, thì qua giao ước với Noe, sự sáng tạo mới phát sinh bằng dấu chỉ cầu vồng. Và Đức Chúa cũng hứa rằng trái đất sẽ không bao giờ bị lụt và đảm bảo sự sống vẫn tiếp tục trên trái đất.
Giao ước thứ ba mà chúng ta nhắc ở đây là giao ước với Abraham (St 15,18; 17,7). Trong giao ước này, Đức Chúa đã hứa cho Abraham trở thành tổ phụ của dân Thiên Chúa. Đây là tột đỉnh cuộc đời của ông, danh ông trở nên lớn lao[20]. Cùng với đó, Thiên Chúa cũng hứa cho dòng dõi của thế gian sẽ được chúc phúc thông qua dòng dõi ông. Đây là sự ám chỉ về Đấng Mesia, là người sẽ đến từ dòng dõi của Abraham[21]. Ngoài ra, trong giao ước với Abraham, chúng ta thấy có một điều kiện: cắt bì – như một dấu hiệu của giao ước và mối liên kết vĩnh viễn với Thiên Chúa.
Trải qua nhiều trăm năm sau lời giao ước với Abraham, giờ đây Israel đã thành dân đông đảo định cư tại Ai Cập (x. Xh 1, 1-7). Nhưng lúc này, dân lại phải chịu cảnh nô lệ, bị bóc lột (x. Xh 1,8-22), vì thế dân không ngững kêu cầu Thiên Chúa cứu giúp. Và Thiên Chúa đã chọn Mose để giải phóng dân khỏi ách thống khổ. Chính lúc này, Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với dân Israel qua trung gian Mose trên núi Xinai (Xh 19-24). Trong giao ước này, Giave Thiên Chúa chính thức nhận Israel làm dân riêng của Ngài. Và giờ đây Giave là Thiên Chúa độc nhất, dân chỉ tôn thờ, tùng phục một mình Ngài. Hơn nữa, ở giao ước này, không chỉ còn là giao ước vô điều kiện mà Đức Chúa lập với dân, mà ở đây, dân có được hạnh phúc hay không là tùy vào sự vâng phục, trung thành hay bất tuân của dân với Thiên Chúa. Vì thế, để giúp họ sống trọn ven giao ước đã ký, Thiên Chúa đã đưa ra “Thập điều”, quy định bổn phận dân Israel đối với Thiên Chúa và với tha nhân[22].
Sau khi đã tiến vào Đất Hứa, dân Israel đã định cư ở đó và tổ chức thành một quốc gia, được lãnh đạo bởi các Thẩm phán và sau là các vua, với vị vua nổi danh nhất là David. Qua trung gian ngôn sứ Nathan, Thiên Chúa đã lập giao ước với David và hậu duệ ông (2Sm 7,23). Với dấu chỉ là vương triều, Giave Thiên Chúa đã hứa rằng dòng dõi ông sẽ kéo dài đời đời. Thiên Chúa cũng công bố chỉ Ngài là Đấng dẫn dắt dân, vua cũng phải dưới quyền Giave và phải tuân giữ những rằng buộc của giao ước. Đặc biệt là dù vua có bất trung thì giao ước cũng không thể bị hủy bỏ, bởi được đặt trên nền tảng lời hứa và lòng trung tín của Giave[23].
Như vậy, chúng ta có thể thấy, lịch sử cứu độ diễn tả sự khoan hồng, nhân từ, nhẫn nại cảu Thiên Chúa với dân Israel – ích kỉ, phản loạn, bất trung. Biết bao lần Thiên Chúa tha thứ cho họ nhưng họ vẫn chứng nào tật đó[24] . Trong tình cảnh khốn cùng đó, các ngôn sứ không ngừng cảnh báo, thức tỉnh dân quay về Thiên Chúa. Và chính lúc đó, Gieremia đã được ủy thác báo trước một giao ước mới mà Đức Chúa sẽ thiết lập để thay thế giao ước cũ đã bị Israel phá hủy.
Phần ba: Giao ước mới được Ngôn sứ Gieremia tiên báo (Gr 31, 31-34)
- Bối cảnh lịch sử
Tai họa năm 587 đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử của dân được Thiên Chúa tuyển chọn: lưu đầy[25]. Trước đó không lâu, năm 627, Gieremia được Thiên Chúa gọi làm ngôn sứ (Gr 1,5). Như thế, Gieremia đã bị đặt vào trong một tình thế phải đối mặt với một bối cảnh chính trị, xã hội hết sức sôi động và cũng rất bi đát của những năm cuối cùng trước khi Gierusalem bị sụp đổ. Không những thế, lúc này tinh thần tôn giáo cũng có một sự thay đổi lớn sau cuộc cải cách tôn giáo của vua Giosigia. Tuy nhiên, Gieremia lại không thấy cuộc cải cách này mang lại kết quả trong việc cắt bì tâm hồn, nhưng chỉ là sản xuất một tinh thần quốc gia đáng nghi ngờ và sự đạo đức giả tạo bên ngoài[26].
Cùng với đó, chúng ta có thể thấy nguyên nhân sâu xa là những lời cam kết qua các giao ước đã vô hiệu bởi sự thất trung của Israel. Và những giao ước đó đã căn cứ quá nhiều trên những luật lệ và hình thức bên ngoài. Còn dân thì chỉ giữ luật cứ chữ và vụ hình thức nên đã bóp nghẹt tinh thần giao ước[27]. Vì thế, Thiên Chúa đã sai ngôn sứ Gieremia đến công bố “sáng kiến hoàn toàn mới và nhưng không của Thiên Chúa là Người sẽ thiết lập Giao ước mới (Gr 31, 31-34)”[28]. Vậy đâu là những điểm mới của giao ước này?
- Tại sao lại được gọi là “Giao ước mới”?
Trong Cựu Ước, Gr 31, 31-34 là nơi duy nhất chúng ta tìm được hạn từ “giao ước mới”. Từ “mới” ở đây nói lên tính chất luôn luôn mới của giao ước, nghĩa là nó sẽ không bao giờ rơi vào tình trạng cũ, không bao giờ bị thay đổi. Giao ước mới không chỉ lặp lại giao ước cũ, là tân trang thôi, nhưng là mới hoàn toàn vì có một nền tảng mới[29]. Như thế, giao ước mà Gieremia nói ở đây là “chưa hề có, mới tận gốc rễ và có phẩm chất cao hơn giao ước cũ”[30].
Ngay từ đầu, chúng ta có thể thấy giao ước này là giao ước vô điều kiện, hay là đơn phương của Thiên Chúa. Vì thế, nó sẽ không bị hủy bỏ cho dù dân không giữ các điều luật. Quả thật, “chính Thiên Chúa sẽ in sâu vào trái tim con người sự hiểu biết và tình yêu của ngài, mà không đòi hỏi điều kiện gì”[31]. Khi mô tả tính ưu việt của giao ước mới, Gieremia sẽ chỉ ra những khía cạnh thực sự mới so với giao ước cũ:
- Sự tồn tại vĩnh viễn của Giao ước mới
Trong các bản văn khác của Cựu Ước, chúng ta thấy “Thiên Chúa được cho là muốn Lề Luật được viết trên các tấm bia đá, được đặt trong Hòm Bia và được lưu truyền từ cha đến con”[32]. Nhưng trong giao ước mới này, sẽ không có gì liên quan đến máu huyết, không cần bia đá để ghi khắc lời của giao ước nữa[33]. Bởi vì nếu luật pháp được viết trên những bia đá, được cất giữ trong Hòm giao ước, thì Israel sẽ dễ dàng quên, vi phạm hay bỏ nó. Như họ nói “ra khỏi tầm nhìn, ra ngoài tâm trí”[34]. Chỉ khi nào lề luật được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người thì họ mới luôn ở trong giao ước. Và do đó, giao ước mới tồn tại vĩnh viễn.
- Tính cá nhân trong Giao ước mới
Trong tôn giáo Israel, Mạc khải của Thiên Chúa luôn cần đến những trung gian như các ngôn sứ, các tư tế hoặc đền thờ. Nhưng ở giao ước mới này, chính mỗi người có thể hiểu biết Thiên Chúa mà không cần qua trung gian nào[35]. Gieremia còn có cảm nghiệm là mỗi cá nhân, “từ nhỏ nhất đến người lớn nhất, phải được ghi nhận và chia sẻ trong cộng đoàn dân của Đức Chúa”[36]. Và đi xa hơn nữa, Gieremia còn khẳng định rằng, giao ước mới sẽ mang đến một sự thay đổi bản chất con người. Bởi vì khi ban cho con người một quả tim mới, thì sẽ luôn có sự hòa hợp giữa ý muốn của Thiên Chúa và Israel. Mọi người sẽ biết lịch sử ơn cứu chuộc, sẽ đón nhận quyền tối thượng của Đức Chúa và sẽ đón nhận các mệnh lệnh của Ngài[37].
- Tính hoàn hảo của Giao ước mới
Sự mới mẻ sau cùng của giao ước mới, nhưng có thể coi là quan trọng nhất. “Ngay cả tội lỗi của Israel cũng không thể làm cho giao ước bị hủy bỏ”[38]. Hay nói cách khác, trong giao ước mới sẽ có sự hòa giải và ơn toàn xá do Thiên Chúa ban để dọn lòng người ta lãnh nhận ơn của Người[39]. Theo ý tưởng của Gieremia, tội lỗi và lỗi lầm có ý nói tới sự phản bội của dân tộc trước lưu đày và “sự tha thứ sẽ đi sau kỷ luật”[40]. Thiên Chúa muốn cho dân nhận ra tội lỗi của mình để thống hối, vì sự phản bội cam kết của giao ước, thì lúc đó mọi sự sẽ thay đổi (Gr 31, 34). Như vậy, cái “mới” ở đây là “chính Chúa và chỉ một mình Chúa đặt vào tâm hồn con người năng lực đáp trả tình yêu của Ngài”[41] và chỉ có Thiên Chúa mới thực sự xóa tội trần gian[42].
Tuy nhiên, giao ước mới mà Gieremia tiên báo cần phải được nhìn trong tương lai, nó như một lời gợi mở, mong muốn được kiện toàn. Giao ước mới này cũng như sự chuẩn bị cho một giao ước hoàn thiện nơi Đức Giêsu Kitô. Vì thế, các tác gải Tân Ước không e dè khi nói rằng “đã không có sự ứng nghiệm toàn vẹn của các sấm ngôn về phục hưng ngay sau lưu đày cho đến thời của Đức Kitô”[43], khi Đức Kitô công bố thiết lập giao ước mới: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy” (Lc22,20).
Phần 4: Giao ước mới được cụ thể và kiện toàn nơi Đức Giêsu Kitô
Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thiệt lập Giao Ước mới và cũng là sự hoàn tất trọn vẹn. Chính vì thế những trình thuật về Bữa Tiệc Ly rất quan trọng đối với việc hiểu đúng quan niệm Giao Ước của Tân Ước (x. Mt 26, 26 – 29; Mc 14, 22 – 25; Lc 22, 17 – 20; 1Cr 11, 23 – 26). Tuy nhiên, Giao ước mới này cũng tương tự như Giao Ước Sinai (Xh 24). Do đó, chúng cung cấp một nền tảng cho sự xác quyết của người kitô hữu về Giao Ước mới trong Chúa Giêsu Kitô.
Chúng ta biết Giao ước mới không hủy bỏ, nhưng tiếp nối và canh tân giao ước cũ. Máu giao ước là máu Chúa Kitô được trao ban vì thế giới. Chính ngài là giao ước mới vì nhờ Ngài, “Thiên Chúa ràng buộc chính Ngài một cách dứt khoát chắc chắn”[44] với công trình tạo dựng của ngài. Nhờ máu Đức Giêsu, tâm hồn nhân loại sẽ được biến đổi[45]. Trong máu Đức Kitô, mọi dân tộc đến thờ phượng Thiên Chúa của Israel và được trở nên thân thuộc, cùng một thân xác, một máu huyết, một thân thể với Chúa Kitô[46].
Trong một nhãn giới khác, các tác giả Tân Ước đã hiểu cái chết của Đức Giêsu trên thập giá như một hy lễ thiết lập giao ước mới với Thiên Chúa. Trong giao ước này, Đức Kitô trong tư thế là Thượng tế vĩnh viễn, dâng hiến chính mình lên Thiên Chúa để lập giao ước mới bằng máu Ngài, máu giao ước vĩnh cửu (x. Dt 8,8-10,31). Trong hy lễ này, Đức Kitô dâng hiến chỉ một lần là đủ, bởi là giao ước vĩnh viễn và phổ quát [47]. Chính giao ước mới hoàn hảo này đảm bảo cho chúng ta được đến gần Thiên Chúa, xóa tội và hiệp nhất con người với Thiên Chúa[48].
Như thế, các tác giả Tân Ước cho thấy sự “khánh thành một giao ước mới trong sứ vụ của Đức Giêsu Kitô”[49], công việc của Chúa Giêsu là “hoàn tất sứ mạng tiên tri của chính Cựu Ước”[50]. Tình thương xót và hồng ân tha thứ cuối cùng được nhắc đến bởi Gieremia sẽ tuôn ra từ con tim bị đâm thủng củ Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá. Chính “Đức Giêsu là Đấng làm cho ứng nghiệm sự mới mẻ mà Gieremia đã loan báo. Người ta không thể hiểu Chúa Giêsu nếu đã không có Gieremia, không thể hiểu Gieremia nếu không có Chúa Giêsu”[51].
Kết luận
Đi lại hành trình giao ước giữa Thiên Chúa với con người, chúng ta có thể xác tín: ý muốn của Thiên Chúa đối với con người chính là giao ước, đó là mối tương quan hiệp thông trong tình yêu; mối tương quan ấy kết nối trời với đất, tinh thần với vật chất, Thiên Chúa với con người[52]. Chính qua giao ước mà Thiên Chúa mạc khải chính mình và kế hoạch quan phòng của Ngài.
Ngang qua giao ước mà ngôn sứ Gieremia loan báo, chúng ta có thể thấy đây là một lời an ủi, một niềm hy vọng cho Israel trong cảnh lưu đày. Nhưng lời tiên báo không chỉ dừng lại ở đó, mà nó còn hướng về Đức Giêsu Kitô – Đấng trung gian của Giao Ước Mới. Chính nhờ Giao Ước Mới này, chúng ta được Chúa thương xót và tha thứ (Dt 22,24), một sự tha thứ hoàn toàn (Dt 8,12; Gr 31,34; Rm 11,27; Dt 10,17); Chúng ta được giải thoát khỏi án phạt do lề luật (2Cr 3,9; Gl 3,13-14), được khắc ghi sâu trong tâm khảm để có khả năng tuân phục luật Chúa (Gr 31,32-33; 32,38-40; Ed 11,19-20; 2Cr 3,3; Dt 8,9-10; 9,14; 10,16). Chúng ta sẽ có một hiểu biết mới về Thiên Chúa “Hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn sẽ biết Ta” (Dt 8,11; x. Gr 31,34; 2Cr 3,15-16), một sự giao hòa (bình an) mới mẻ với Thiên Chúa (Ed 3,26-27; Gr 24,7; 31,1; Ed 34,30-32; Hs 2,19-23).
[1] X. Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội, “Bộ Ngũ Thư”, Lưu hành nội bộ, tr 230 – 231.
[2] Phêrô Đình Phương, OP, “Hành trình giao ước giữa Thiên Chúa và con người qua lịch sử cứu độ”, (23 tháng 09 năm 2018), https://catechesis.net/hanh-trinh-giao-uoc-giua-thien-chua-va-con-nguoi-qua-lich-su-cuu-do/.
[3] X. Scott Hahn, “Thần học Thánh kinh của ĐGH Benedicto XVI”, Nxb Đồng Nai, 2016 tr 149.
[4] x. Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Bộ Ngũ Thư”, Lưu hành nội bộ, tr 227.
[5] Hội đồng Giám mục Việt Nam, “Từ điển Công giáo”, nxb Tôn giáo, 2011, tr 127.
[6] Ban biên soạn từ điển Vietnambook, “Từ điển Tiếng Việt”, nxb Thanh Niên, 2009, tr 547.
[7] X. E. Kursch, berith, DTAT1, 1978, tr 295 – 306.
[8] Joseph Cardinal Ratzinger, “Many Religions, One Covenant”, San Francisco: Ignatius, 1998, tr 48.
[9] X. Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Đức Giêsu Kitô – Đường Giao ước mới”, (01/01/2022), https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-giao-uoc-moi-44329.
[10] Hội đồng Giám mục Việt Nam, “Từ điển Công giáo”, nxb Tôn giáo, 2011, tr 127.
[11] Ibid, tr 128.
[12] Vũ Minh, “Giao ước của Thiên Chúa”, (30/04/2017), https://dcctvn.org/giao-uoc-cua-thien-chua/.
[13] Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội, “Bộ Ngũ Thư”, Lưu hành nội bộ, tr 228.
[14] X. Lawrence Boadt, “Dẫn vào Cựu Ước”, chuyển ngữ Lm Simon Nguyễn Phú Cường và J.B Phạm Đức Sử, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 215.
[15] Scott Hahn, “Thần học Thánh kinh của ĐGH Benedicto XVI”, Tú Ân dịch và tổng hợp, Nxb Đồng Nai, 2016, 65.
[16] X. Vũ Minh, “Giao ước của Thiên Chúa”, ibid.
[17] Gm Giuse Vũ Văn Thiên, “Lời Giao ước”, http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=home&v=detail&ia=533
[18] X. Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội, “Bộ Ngũ Thư”, Lưu hành nội bộ, tr 72.
[19] X. Ibid, tr 123.
[20] X. Ibid, tr 144.
[21] https://www.gotquestions.org/Viet/nhung-giao-uoc-trong-Kinh-thanh.html.
[22] Phêrô Đình Phương, OP, ibid.
[23] Phêrô Đình Phương, OP, ibid.
[24] X. Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, ibid.
[25] X. Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Sách các ngôn sứ”, lưu hành nội bộ, tr 158.
[26] X. Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 692.
[27] X. Lm Inhaxio Nguyễn Ngọc Rao, “Các sách Ngôn sứ”, 2006, tr 217.
[28] Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Sách các ngôn sứ”, lưu hành nội bộ, tr 181.
[29] Lm Giuse Võ Đức Minh, “Đức Kitô, Thượng tế của giao ước mới, Đấng thiết lập Bí tích Thánh Thể, https://hocvienthanhthe.com/duc-giesu-kyto-thuong-te-cua-giao-uoc-moi-dang-thiet-lap-bi-tich-thanh-the/.
[30] Chantal Reynier, “Để đọc các Ngôn sứ”, chuyển ngữ Thiên Hựu và Xuân Hùng, Nxb Phương Đông, 2017, tr 212.
[31] Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Sách các ngôn sứ”, lưu hành nội bộ, tr 181.
[32] Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 774.
[33] X. Chantal Reynier, “Để đọc các Ngôn sứ”, tr 213.
[34] Josh Niemi, “what’s New about the New Covenant”, https://www.expositoryparenting.org/blog/2020/7/25.
[35] X. Chantal Reynier, “Để đọc các Ngôn sứ”, tr 213.
[36] Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 775.
[37] X. Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 776-777.
[38] Chantal Reynier, “Để đọc các Ngôn sứ”, tr 213.
[39] X. Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Sách các ngôn sứ”, lưu hành nội bộ, tr 183.
[40] Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 777.
[41] Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, “Sách các ngôn sứ”, lưu hành nội bộ, tr 183.
[42] Josh Niemi, “what’s New about the New Covenant”, ibid.
[43] Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 778.
[44] Joseph Cardinal Ratzinger, “Many Religions, One Covenant”, San Francisco: Ignatius, 1998, tr 18.
[45] X. Điển ngữ thần học Thánh Kinh, tr 50.
[46] Scott Hahn, “Thần học Thánh kinh của ĐGH Benedicto XVI”, Tú Ân dịch và tổng hợp, Nxb Đồng Nai, 2016, 141.
[47] X. Felipe Gomez, “Kitô học”, Anton và Đuốc sáng, tr 313.
[48] X. Điển ngữ thần học Thánh Kinh, tr 51.
[49] Benard Phạm Hữu Quang, biên soạn, “Giới thiệu Ngôn sứ Thánh kinh”, Nxb Đồng Nai, 2022, tr 778.
[50] Joseph Cardinal Ratzinger, “Many Religions, One Covenant”, San Francisco: Ignatius, 1998, tr 28.
[51] Chantal Reynier, “Để đọc các Ngôn sứ”, tr 215.
[52] X. Scott Hahn, “Thần học Thánh kinh của ĐGH Benedicto XVI”, Tú Ân dịch và tổng hợp, tr 164.
— Mary Magdalene, C.M.R —






