Dẫn nhập
Có thể nói, vua Đavít là một trong những nhân vật được nhắc đến nhiều lần trong Kinh thánh Cựu ước cũng như Tân ước. Ông cũng được đứng trong hàng “các vĩ nhân”, một chính trị gia tinh tế, một tướng lãnh quân đội tài ba, một nhà ngoại giao xuất chúng, và hơn hết ông còn được ca tụng là thánh vương[1]. Tuy nhiên, ẩn sâu bên trong cuộc đời đầy thành công của bậc anh hùng ấy lại thấp thoáng đâu đó những vết nhơ tội lỗi, những sa ngã nặng nề, những tội ác kinh hoàng khiến vua Đavít bị liệt vào hạng tội nhân. Vậy vua Đavít thực sự đã phạm tội tới mức nào? Vì đâu một tội nhân như vua lại được gọi là thánh nhân, là thánh vương? Với những chia sẻ dưới đây, hy vọng bài viết phần nào giúp độc giả giải đáp được những băn khoăn đó và hiểu hơn về vua Đavít – một tội nhân và cũng là một thánh nhân.
- Đôi nét về vua Đavít
Đavít trong tiếng Do thái có nghĩa là “người được yêu mến” . Ông là vị vua thứ hai của Israel, sau vua Saun. Triều đại của vua tồn tại trong khoảng 40 năm, từ năm 1010 đến năm 970 trước Chúa Giáng Sinh. Tân ước cũng đã nhiều lần đề cập tới việc Đức Ki-tô sẽ xuất thân từ dòng dõi vua Đavít. Dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa, ngôn sứ Samuen đã xức dầu cho Đavít – người con thứ 8 của ông Giesê thuộc chi tộc Giuđa. Đavít trở thành người được Thiên Chúa tuyển chọn làm vua dân Israel. Đavít là người có tài, biết làm thơ, sáng tác nhạc, biết chơi đàn nên được triệu tập vào cung điện vua Saun để làm vơi đi những lo lắng của vua bằng những bài ca du dương, lay động tâm hồn. 150 Thánh vịnh mà Kinh thánh ghi lại cũng được cho là các tác phẩm của vua Đavít.
Đavít cũng luôn đồng hành với vua Saun trong các cuộc chiến đấu. Đặc biệt, Đavít đã nghênh chiến tay đôi với tên Goliat khổng lồ của quân Philitinh và chiến thắng kẻ thù không phải bằng khí giới loài người nhưng bằng niềm tin và sức mạnh ông đặt nơi Thiên Chúa. Sự nghiệp của Đavít cũng gặp những thử thách lâu dài khi phải đối diện với lòng ghen tị và nghi ngờ của vua Saun. Nhiều lần vua Saun tìm cách hại giết Đavít nhưng không thành bởi Đavít được sự giúp đỡ của người vợ là con gái vua Saun và anh trai vợ là Gionathan.
Sau cái chết của vua Saun, Đavít mới trở về và được xưng vương chính thức. Vua Đavít đã làm nên một triều đại huy hoàng đi liền với nhiều chiến công hiển hách cùng với việc trải rộng quyền lực. Đặc biệt, vua đã đưa Hòm bia Giao ước trở về Giêrusalem và có ý định xây một Đền thờ. Tuy nhiên, vào thời hoàng kim của cuộc đời, vua Đavít lại mất dần lòng trông cậy vào Thiên Chúa và đắm sâu trong tội lỗi. Vua sa ngã và thất bại như ngôn sứ Nathan công bố: “Ấy vậy, gươm sẽ không bao giờ ngừng chém người nhà ngươi” (2Sm 12,9). Đavít sống đến tuổi cao niên nhưng phần cuối triều đại của ông lại trở nên u ám. Vua là một nhà lãnh đạo quân sự tài ba nhưng đối với việc gia thất thì vua lại là con người nhu nhược. Âm mưu phế trưởng lập thứ chính là mầm mống gây ra hậu quả sau này và đưa vương quốc của ông đến tình trạng phân đôi[2].
- Đavít – một tội nhân
Tội lỗi phát xuất từ sự nghịch đạo nghĩa là khước từ tôn vinh Thiên Chúa như là Thiên Chúa thật và không tỏ lòng biết ơn Ngài[3]. Thánh Phêrô còn nói thêm rằng sự bất công của tội lỗi là việc ưa chuộng “thế giới đã bị ô nhiễm” bởi kiêu căng, ích kỷ và tự lừa dối mình hơn là tình yêu vô biên của Đức Kitô (X. 2Pr 2,20). Theo đó, Kinh thánh Cựu ước dưới cái nhìn của các ngôn sứ đã cho thấy Vua Đavít thực sự là một tội nhân khi vua phạm hai tội thật nghiêm trọng: tội ngoại tình, giết người và tội kiểm tra dân số. Đó đều là những tội nghịch đạo, những vết nhơ kinh khủng trong cuộc đời của vị vua nổi tiếng này.
Trước hết, vua Đavít đã có những hành động xấu không thể che giấu hay bênh vực được. Câu chuyện tội lỗi của vua được tác giả sách thánh ghi lại chi tiết trong sách 2Sm 11,1-26. Vua Đavít hài lòng và có vẻ chắc chắn về những chiến công mà vua lập được nên vào thời mà các vua ra quân thì vua Đavít sai các các bề tôi của vua đi, còn vua thì ở lại Giêrusalem (X. 2Sm 11,1). Rồi khởi đầu từ một cái nhìn tò mò vào lúc dạo chơi trên sân thượng, hình ảnh người đàn bà tên là Bát Seva đang tắm, có nhan sắc tuyệt vời đã khiến nhà vua lưu tâm và rơi vào cám dỗ. Vua không chặn cám dỗ đứng bên ngoài nhưng lại để cho cám dỗ ấy dẫn dắt vua tới tội lỗi. Kế đến, vua sai người đi điều tra về người đàn bà, rồi đón nàng về, ăn ở với nàng. Bà Bát Seva thụ thai (X. 2Sm 11,4-5). Như vậy, từ một “cái nhìn tò mò” trong hoàn cảnh nhàn rỗi tới sự chủ quan không giữ mình khỏi sự cám dỗ đã dẫn vua Đavít tới tội ngoại tình. Điều đó cho thấy vua Đavít đã thực sự thiếu thận trọng trong những chuyện nhỏ để nó trở thành điều nghiêm trọng hơn rồi dẫn tới trọng tội[4].
Tiếp theo, chúng ta sẽ thấy những bước sa ngã xuống dốc tệ hại của vua Đavít, tội chồng chất tội. Tội ngoại tình kéo theo tội giết người khi vua chủ tâm sát hại tướng Urigia – chồng bà Bát Seva tại chiến trận đã được gài bẫy sẵn. Vua Đavít trở thành kẻ sát nhân, đồng thời làm cho tướng Giôáp trở thành kẻ đồng phạm và cộng tác trong việc giết người. Trong khi đó, Urigia – người bị giết là một tôi trung của nhà vua thì đáng lẽ ông phải được lãnh thưởng chứ không phải lãnh án tử. Để cứu vãn danh dự của mình, vua sẵn sàng sống giả dối và tàn bạo, thậm chí trở thành kẻ bất nhân. Chương 11 kết thúc với lời khẳng định: “Hành động của Đavít không đẹp lòng Đức Chúa” (2Sm 11,27).
Hành động kiểm tra dân số là tội thứ hai khiến vua Đavít trở thành vị vua “tai tiếng”. Việc này được nói đến trong 2Sm 24,1-9: “Đức Chúa lại nổi giận với Israel và Người xúi giục vua Đavít gây hoạ cho họ. Người phán: Hãy đi đếm dân Israel và người Giuđa”. Trong 1Sbn 21,1 lại đề cập vấn đề nhẹ nhàng hơn khi nói rằng đây là việc do Satan xúi giục. Vậy việc kiểm tra dân số ở đây có gì để phải gọi là trọng tội của vua Đavít? Đầu tiên, kiểm tra dân số được hiểu như một hoạt động để biết được tiềm năng của dân: có bao nhiêu chiến binh biết tuốt gươm? Tuy nhiên, với cuộc kiểm tra quân sự này, vua chỉ còn nhìn thấy trước mắt với bờ cõi rộng lớn của đất nước, hãnh diện về sức mạnh của mình và từ đây, vua gạt bỏ Thiên Chúa, không còn nhìn nhận Thiên Chúa là chủ của dân[5].
Thêm nữa, kiểm tra dân số còn là một hành động phi đạo đức[6]. Truyền thống Đông phương cho rằng chỉ một mình Thiên Chúa mới có quyền biết con số chính xác về những người mà Ngài dựng nên, vì thế kiểm tra dân số là một hành động gian ác[7]. Như vậy, có thể nói rằng Đavít đã tiếm quyền Thiên Chúa, vua không còn đặt Thiên Chúa làm chủ cuộc đời mình, không còn cậy dựa vào quyền năng của Thiên Chúa nhưng vua tự đắc về sức mạnh bản thân, tự cho mình quyền làm chủ và cai quản dân của Ngài. Vì trọng tội ấy mà Thiên Chúa tức giận, giáng phạt nặng nề: dân số giảm xuống nhanh chóng, bệnh dịch hoành hành ba ngày… Do đó, dù kết quả kiểm tra thế nào thì hành động ấy cũng đã không làm đẹp lòng Thiên Chúa.
- Đavít – một thánh nhân
Với việc vi phạm luật Giao ước: “Ngươi không được giết người, ngươi không được ngoại tình,… ngươi không được ham muốn vợ người ta…” (Dnl 5,17-18) và tội gạt bỏ Thiên Chúa mà Đavít đã trở thành một tội nhân, tội này kéo theo tội khác. Tuy nhiên, nhờ Lời Chúa qua miệng ngôn sứ Nathan, vua đã thực lòng sám hối với lòng khiêm nhường và được Thiên Chúa thứ tha. Điểm đáng nói ở đây là lời thú tội chân thành của vua với Thiên Chúa khi nói với ngôn sứ Nathan: “ Tôi đã phạm tội nghịch cùng Đức Chúa” (2Sm 12,13). Ngôn sứ Nathan càng nói thì vua Đavít càng hối hận về lỗi lầm của bản thân. Vua không một lời bào chữa hay giải thích nhưng chỉ có lời thú tội rõ ràng với sự xấu hổ và sợ hãi[8]. Tội của Đavít thật nhiều và thật nặng nề, nhưng vua can đảm, tin tưởng vào lòng nhân từ của Thiên Chúa. Mặc dù công lý vẫn được thực hiện với những phán quyết nghiêm thẳng của Thiên Chúa nhưng vua Đavít đã thực sự hối hận. Điều đó được thể hiện qua những lời thảm thiết trong Thánh vịnh 50.
Với tội kiểm tra dân số, sách Cựu ước ghi lại: “Vua Đavít áy náy trong lòng khi đã kiểm tra dân số như vậy. Vua thưa cùng Đức Chúa: Con đã phạm tội nặng khi làm như thế. Giờ đây, lạy Đức Chúa, xin bỏ qua lỗi lầm của tôi tớ Ngài, vì con đã hành động rất ngu xuẩn” (2Sm 24,10). Vua Đavít đã tự nhận hành động của mình là ngu xuẩn và vua cũng đã tự chọn hình phạt: “Thà chúng ta sa vào tay Đức Chúa còn hơn, vì lòng thương của Người bao la” (2Sm 24,14). Đavít cảm nghiệm sự yếu đuối và tội lỗi của mình, sự vô ích của mọi phương thế trần gian và hơn hết là sự ý thức về lòng thương xót vô biên nơi Thiên Chúa[9]. Quả thực, thánh vương Đavít không phải là người không có tội nhưng là một tội nhân biết quay đầu sám hối để được Thiên Chúa tha thứ. Chính sự rất mực khiêm nhường đó đã khiến vua đón nhận được ân sủng nơi Thiên Chúa và trở nên thánh nhân.
Ngoài tâm tình khiêm nhường và sẵn lòng cúi đầu sám hối trước những lỗi lầm của mình, Đavít còn nổi bật với những điều rất đẹp lòng Thiên Chúa. Dường như vẻ đẹp bên ngoài của Đavít phần nào phản chiếu nét đẹp bên trong tâm hồn ông. Trước hết, vua Đavít hằng vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong mọi việc. Những khi phải giao chiến với quân thù dù lớn hay nhỏ, vua đều thỉnh ý Đức Chúa để biết mình cần phải làm gì hay không nên làm gì (X. 1Sm 23,1-28). Thiên Chúa cần sự lắng nghe và vâng phục nơi những con người Chúa chọn, những dụng cụ Chúa dùng để thực thi ý Chúa: “Này, vâng phục thì tốt hơn là dâng hy lễ, lắng nghe thi tốt hơn là dâng mỡ cừu” (1Sm 15,22).
Luôn đặt trọn niềm tin tưởng, phó thác nơi Thiên Chúa cũng là một nét nổi bật nơi Đavít khiến Thiên Chúa hài lòng. Ông ra trận với dây phóng đá và gậy mục tử cùng lòng tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa (X. 1Sm 17,40). Ông không đặt niềm tin vào sức mạnh thế gian nhưng hoàn toàn phó thác trong tay Thiên Chúa. Điều này trái ngược với vua Saun thường phủ nhận sự hiện diện của Thiên Chúa khi đối thoại với Samuen: “Thiên Chúa của ông” chứ không phải “Thiên Chúa của tôi” (X. 1Sm 15, 15.21). Cuối cùng, sống có trách nhiệm và dám lãnh trách nhiệm về việc mình làm là một phẩm chất cao quý nơi vị vua danh tiếng này. Vua Đavít sống chết để bảo vệ đàn vật của mình (X. 1Sm 17,34-36); có trách nhiệm, bảo vệ cho những chiến binh đi theo mình được bình an (X. 1Sm 21,1-10); luôn giữ lời hứa và đối xử tốt với những người đã từng giúp mình (X. 1Sm 19,6/2Sm 9,1). Vua Đavít thực sự là người sống có tình nghĩa ngay cả đối với Saun là người đã nhiều phen tìm cách hại giết mình. Những đức tính và phẩm chất cao quý ấy hẳn là những điều khiến Thiên Chúa hài lòng và sẵn sàng tha thứ lỗi lầm để cho vua có cơ hội quay đầu trở về, “làm hoà” với Thiên Chúa. Vua Đavít trở nên vĩ đại, trở thành thánh nhân không phải do vua làm nên nhưng bởi kế hoạch đầy yêu thương mà Thiên Chúa đã dành cho ông.
- Đavít – một bài học cho đời sống Kitô hữu
Nhìn vào đời sống vua Đavít – vị vua danh tiếng và cũng nhiều tai tiếng trong Kinh thánh, ta rút ra được những bài học quý giá trong đời sống. Trước hết, hãy học tự biết mình. Biết mình là điều cần thiết để nhìn nhận được những điểm yếu của bản thân giúp tránh dịp sa ngã phạm tội. Nên tránh xa việc đối thoại với cám dỗ và điều cần thiết là phải khiêm tốn cậy nhờ vào ơn Chúa, xin Ngài ban ơn cắt đứt ngay những cám dỗ tinh vi nhất trong đời sống. Đôi khi những chuyện nhỏ lại gây nên những hậu quả rất lớn nếu ta để cho sự yếu đuối của xác thịt làm chủ bản thân. Bởi lẽ như lời thánh Phaolo nói: “Sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19). Và từ đó tội này tiếp tục dẫn tới tội khác.
Cuộc đời của một thánh vương nhưng cũng là một đại tội đồ cho ta suy ngẫm về hành trình làm người trên dương thế. Có lúc tốt lành, thánh thiện nhưng cũng có lúc chẳng thiếu những sự gian ác mà chỉ ta mới biết và chỉ Thiên Chúa mới thấu suốt ngọn nguồn. Như thế, chỉ nơi Thiên Chúa mới cho ta một cuộc sống an bình và hạnh phúc nếu ta biết tin tưởng vào lòng thương xót và sự tha thứ vô biên của Ngài. Và chỉ Thiên Chúa mới là Đấng đủ quyền năng xoá bỏ tội lỗi và hoán cải tâm hồn con người: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông” (Is 1,18). Vì thế, việc năng kín múc sức mạnh thiêng liêng nơi Thánh lễ và các Bí tích là điều thật cần thiết cho đời sống nên thánh của mỗi Kitô hữu.
Vua Đavít không phải một con người hoàn hảo nhưng ông lại có những phẩm tính đáng quý. Tấm lòng yêu thương, quảng đại, chân thành, sống có ân nghĩa trước sau, đặc biệt sự trung thành, vâng phục và tín thác vào thánh ý Thiên Chúa nơi Đavít là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta. Giáo hội có bị bầm dập, bị tổn thương và dơ bẩn vì tội lỗi nhưng còn hơn một Giáo hội bệnh hoạn, dửng dưng, vô cảm vì đóng cửa và an nhàn trong sự an toàn riêng của bản thân[10]. Mang thân phận con người thì không ai hoàn hảo nhưng biết cố gắng mỗi ngày để trở nên hoàn hảo mới là điều để Thiên Chúa “đánh giá” mỗi người chúng ta.
Kết luận
Chẳng vị thánh nào không có một quá khứ và cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai[11]. Điều ấy được khắc hoạ rõ nét nơi hình ảnh vua Đavít. Là vua nhưng Đavít cũng đảm nhận thân phận của một con người với những giằng co giữa ánh sáng và bóng tối, giữa thành công và thất bại, giữa thánh thiện và tội lỗi. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã ra tay đón nhận Đavít dù khi là thánh vương cao quý cũng như lúc thấp hèn ngập chìm trong đam mê tội lỗi. Bởi lẽ trong quá khứ đầy “cỏ lùng” ấy, vua Đavít đã can đảm nhận trách nhiệm về hành vi tội lỗi của mình và khiêm nhường để cho quyền năng, lòng thương xót của Thiên Chúa chữa lành và biến đổi. Ước chi qua con người và hành trình từ tội nhân tới thánh nhân của vua Đavít, mỗi chúng ta có thêm những kinh nghiệm thiết thực cho “kế hoạch nên thánh” trong đời sống của mình.
[1] X. Lm Inhaxio Nguyễn Ngọc Rao OP, Lịch sử dân Thiên Chúa trong Cựu ước, tr. 219.
[2] X. Lm Dominic Nguyễn Phúc Thuần SSS, Dẫn vào Kinh thánh, tr. 92.
[3] Bernard Haring CSsR, Tự do và trung thành trong Đức Kitô, dịch giả Lm Dom Nguyễn Đức Thông CSsR (Nxb. Tôn Giáo, 2012), tr. 397.
[4] X. Hồng y Carlo Maria Martin, Qua Đavít đến với Chúa Giêsu, dịch giả Linh mục Montfort Phạm Quốc Huyên O.Cist, (Nxb. Phương Đông, 2016), tr. 57.
[5] Ibid, tr. 47.
[6] X. Lm Inhaxio Nguyễn Ngọc Rao OP, Lịch sử dân Thiên Chúa trong Cựu ước, tr. 205.
[7] Ibid, tr.204.
[8] Ibid, tr. 199.
[9] X. Hồng y Carlo Maria Martin, Qua Đavít đến với Chúa Giêsu, dịch giả Linh mục Montfort Phạm Quốc Huyên O.Cist, (Nxb. Phương Đông, 2016), tr. 48.
[10] X. Lm Anmai CSsR, “Tôi muốn có một Giáo hội bị bầm dập”, (10/02/2023), https://hoidongmtgquinhon.org/doi-tu/toi-muon-co-mot-giao-hoi-bi-bam-dap-1962.html.
[11] Đức Thánh Cha Phanxico, chuyển ngữ Vũ Đức Anh Phương SJ, “Chẳng vị thánh nào không có một quá khứ, cũng chẳng tội nhân nào không có một tương lai”, (20/01/2016), https://dongten.net/chang-vi-thanh-nao-khong-co-mot-qua-khu-cung-chang-toi-nhan-nao-khong-co-mot-tuong-lai/.
— Therese Thông Xanh, C.M.R —






