Thế giới một lần nữa lại chìm trong thảm kịch chiến tranh vì con người đã quên đi những bi kịch trong quá khứ nên phải chứng kiến nhiều dân tộc bị bạo lực đàn áp dã man[1]; hàng tỷ người nghèo phải thiếu thốn những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống[2]; nhiều người lưu vong, di tản và tị nạn buộc phải chạy trốn nhằm tránh chiến tranh, bạo lực và phân biệt đối xử[3]… Đây là những thực tại bi đát đang diễn ra trong nhân loại. Ở đó, “chúng ta gặp những người chán nản, họ nhìn về tương lai với thái độ hoài nghi và bi quan, như thể chẳng điều gì có thể mang lại hạnh phúc cho họ”[4]. Vì thế, trong Sắc chỉ công bố Năm thánh thường lệ 2025, Đức Thánh Cha Phanxico mong rằng “Năm thánh là cơ hội cho mọi người nhen nhóm lại niềm hy vọng”[5]. Ngài còn cho thấy “Năm thánh sắp tới sẽ là một Năm thánh mang nét đặc trưng của niềm hy vọng không bao giờ mất đi, niềm hy vọng nơi Thiên Chúa”[6].
Để giúp chúng ta có niềm hy vọng vững vàng, Đức Thánh Cha nhắc tới Ba nhân đức đối thần – cốt lõi của đức tin Kitô hữu[7]; sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa[8]; sự phán xét dựa trên tình yêu[9]; ân xá – lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa[10]. Nhưng quan trọng hơn cả, Đức Thánh Cha nhấn mạnh tới niềm hy vọng vào sự sống đời đời[11]. Quả thật, niềm hy vọng này đã được đặt nền tảng trên Thánh kinh và Thánh truyền[12] và đã được các Giáo phụ tiếp tục phát triển. Vậy, cách cụ thể, các Giáo phụ đã triển khai tư tưởng về niềm hy vọng sự sống đời đời thế nào? Bối cảnh xã hội đã tác động đến những tư tưởng đó ra sao? Nhưng trước tiên, cần phải nắm vững được ý nghĩa, bản chất của Hy vọng.
Hy vọng
Trước tiên, hy vọng là một từ Hán Việt. Hy vọng là tin tưởng, mong chờ điều tốt đẹp sẽ đến. “Hy” là ít, thưa, hiếm; “vọng” là trông chờ, trông ngóng, ngóng nhìn[13]. Hy vọng cũng có thể là ngẩng nhìn, chiêm vọng; dò xét ý đồ của người khác mà nghênh hợp; ham muốn, dục vọng; nguyện vọng cao đẹp, lý tưởng[14]. Đối tượng của hy vọng luôn là điều tốt lành; thuộc về tương lai chưa tới; là cái gì cam go hoặc không biết chắc chắn sẽ xảy đến hay không nhưng ta mong sẽ có thể đạt được[15].
Trong cuộc sống, hy vọng rất cần thiết vì nó mang lại nghị lực, sự kiên trì trong khi gặp gian truân, hân hoan hướng về tương lai. Nhiều triết gia còn khẳng định hy vọng gắn liền với bản tính con người, hy vọng định nghĩa con người. Theo triết gia Gabriel Marcel, hy vọng là một nhân tố cấu thành đời sống con người vì ông định nghĩa con người là Homo viator – con người mang thân phận lữ hành. Trong cuộc lữ hành đó, con người không an phận với hiện tại, nhưng mong muốn một tương lai tốt đẹp hơn. Bởi thế, hy vọng là động lực cho những dự án, kế hoạch, công trình của con người. Vậy nên hy vọng nằm trong bản tính con người.
Hơn nữa, đối với niềm tin Kitô giáo, hy vọng (Đức Cậy) cùng với Đức Tin và Đức Mến làm nên ba nhân đức nền tảng, là ba món quà vô giá mà Thiên Chúa tặng ban con người[16]. Hy vọng giúp con người vượt qua những bấp bênh của thời cuộc. Hy vọng như là ‘chiếc phao cuối cùng’ của con người trong cảnh cùng cực, khốn khổ. Người ta có thể giết chết một con người, một gia đình, một dân tộc nhưng không thể giết chết hy vọng. Hy vọng giúp con người luôn lạc quan trong mọi biến cố của cuộc sống và sẵn sàng biến đổi sao cho gần gũi với điều mình hy vọng nhất[17]. Đặc biệt, nhân đức hy vọng “đáp ứng khát vọng hưởng vinh phúc mà Thiên Chúa đã đặt trong trái tim mỗi người; đảm nhận những sự mong đợi đang gợi hứng cho các hoạt động của con người; thanh luyện những mong đợi đó để quy hướng chúng về Nước Trời”[18]. Nhờ hy vọng, chúng ta tin tưởng vững chắc “Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu và các ân sủng để xứng đáng hưởng sự sống đó”[19]. Vì vậy, trong suốt lịch sử, Giáo hội luôn tín thác và gìn giữ niềm hy vọng vào sự sống đời đời. Đặc biệt vào thời Giáo phụ, các ngài đã mạnh mẽ bảo vệ niềm hy vọng đó, cho dẫu có nhiều tư tưởng, giáo thuyết sai lạc, đi xa khỏi đức tin Kitô giáo.
Những lạc thuyết
Ngay sau biến cố Đức Kitô phục sinh và về trời, các tín hữu mong chờ Đức Kitô trở lại để hoàn tất Nước Thiên Chúa. Họ tin rằng ngày quang lâm đã gần kề, ơn cứu độ được thể hiện cách cụ thể qua việc người chết sẽ sống lại với Đức Kitô. Tuy nhiên, sang thế hệ thứ hai, ngày quang lâm vẫn chưa đến, vì thế các tín hữu đặt câu hỏi về số phận của những người đã qua đời. Thêm vào đó, do ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp, các tín hữu biết rằng con người là một hợp thể gồm hồn và xác. Chính văn hóa Hy Lạp cũng cung cấp cho Kitô giáo một chìa khóa để giải quyết về vấn đề cánh chung cá nhân. Tuy nhiên, văn hóa Hy Lạp cũng đưa các tín hữu tới nguy cơ coi nhẹ sự sống lại của thân xác. Vì thế, các giáo phụ hộ giáo như Theophilo Antiokia (k.180), Athenagora (k.177), thánh Giustino (100 – 165) đã vất vả bênh vực cho niềm hy vọng vào sự sống lại dựa trên quyền năng của Thiên Chúa[20].
Thêm vào đó, khi các tín hữu tiên khởi nuôi dưỡng niềm hy vọng Đức Kitô sắp quang lâm trong tư thế tạm bợ, chẳng màng chi tới công ăn việc làm. Điều này khiến thánh Phaolo nặng nề khiển trách (x. 2Tx 3, 10-11). Dần dần, các tín hữu chấp nhận thực tại rằng ngày quang lâm chưa đến. Họ bắt đầu quan tâm đến việc kiện toàn, củng cố đời sống cá nhân cũng như cộng đoàn mà lãng quên thân phận lữ hành[21]. Vì thế, phong trào Montano xuất hiện vào khoảng năm 170 tại Ardabau, gắn liền với ông Montano. Ông tự xưng là phát ngôn và ngôn sứ của Chúa Thánh Thần để mạc khải chân lý trọn vẹn.
Trọng tâm sứ điệp của Montano là loan báo sự quang lâm gần kề của Đức Kitô. Ngài sắp ngự đến trong vinh quang tại miền Phrigia để thiết lập thành Gierusalem mới. Và để chuẩn bị đón tiếp Chúa quang lâm, Montano đã đề xuất vài biện pháp tu đức khổ chế. Trước hết là việc ăn chay, thứ hai là chê bỏ thế gian. Ông kêu gọi các tín hữu phải tìm cách cắt đứt mọi ràng buộc với thế gian. Hình thức cụ thể của sự thoát ly là phải từ bỏ hôn nhân, coi khinh mạng sống[22].
Cùng với phong trào Montano, thuyết Ngộ đạo cũng đã tác động rất nhiều tới niềm hy vọng sự sống đời đời của các Kitô hữu. Ngộ đạo coi linh hồn mới đáng quý chứ thân xác là nhơ nhớp, phế bỏ. Họ coi nhẹ mầu nhiệm Nhập Thể vì Đức Giêsu không có thân xác thực sự, mà chỉ có hình dạng thân xác. Cũng vì đó, mầu nhiệm Phục sinh của Chúa Giêsu cũng trở nên vô nghĩa nếu Người không có thân xác. Và mầu nhiệm Thánh Thể cũng thế bởi vì nếu thân thể là ô uế thì sao phải thờ lạy?[23] Chính những lý lẽ đó đã làm lung lay niềm hy vọng của người Kitô hữu.
Hơn nữa, thuyết Ngộ đạo còn vẽ lên khung cảnh bi quan của đời sống mai sau khi nói về nỗi khắc khoải về sự dữ trong cuộc sống trần gian. Ngộ đạo xuất hiện như một biểu hiện của ý thức bất hạnh. Ý thức này làm nảy sinh nơi con người cảm thức về một sự vong thân, một cuộc lưu đày, một sự tước bỏ so với thiên đàng đã mất[24]. Thêm vào đó, thuyết Ngộ đạo còn lý luận rằng: “Con đường cứu độ hệ tại ở tri thức”[25]. Họ nghĩ người nào thủ đắc được tri thức giải thoát là được cứu độ. Bởi vậy, các Kitô hữu theo Ngộ đạo đã tự xem mình như “Giáo hội của những người hoàn hảo, nòng cốt của những kẻ được tuyển chọn”[26]. Điều này cũng như minh nhiên nói rằng những người khác sẽ không được cứu độ và không có hy vọng cho đời sống mai sau. Như vậy, chính từ những giáo thuyết sai lạc đó, các Giáo phụ trong từng giai đoạn đều ra sức bảo vệ niềm hy vọng của Giáo hội qua những khảo luận về phục sinh kẻ chết và sự sống đời đời.
Tư tưởng của các Giáo phụ về niềm hy vọng sự sống đời đời
Để trình bày về sự sống đời đời, nhiều Giáo phụ đã khởi đi từ tư tưởng phục sinh kẻ chết. Tiêu biểu là thánh Giustino. Ngài khẳng định rằng: “chúng tôi chắc chắn sẽ có một cuộc phục sinh kẻ chết”[27]. Thánh nhân cũng tiếp tục diễn tả niềm hy vọng về sự sống đời đời khi nói: “Hồn của kẻ chết mới đầu sẽ bước vào chốn âm phủ, ở đó cho đến ngày tận thế. Nhưng dù ở trong âm phủ, những hồn thánh thiện cũng hoàn toàn tách biệt với những hồn tội lỗi. Những hồn thánh thiện luôn vui mừng, mong chờ ngày được hưởng ơn cứu độ vĩnh cửu, trong khi những hồn tội lỗi lại đau khổ vì phải chịu hình phạt ngày trước mắt”[28].
Kế thừa tư tưởng đó của thánh Giustino, Tertuliano cũng thể hiện một sự tôn trọng lớn đối với thân xác con người để chống lại thuyết Ngộ đạo: “Thân xác vinh quang trong bàn tay Thiên Chúa và thân xác vinh quang hơn nữa nhờ hơi thở của Thiên Chúa”[29]. Nhưng hơn thế, Tertuliano đã khẳng định cách dứt khoát về việc thân xác sẽ được phục sinh. Chính Đức Thánh Cha Benedicto XVI cũng đã triển khai tư tưởng này của Tertuliano khi nói: “Chúng ta có hy vọng rằng tương lai là của chúng ta bởi tương lai là của Thiên Chúa. Do đó, sự phục sinh của Chúa được trình bày như là nền tảng của sự phục sinh trong tương lai của chúng ta và đại diện cho những đối tượng chính của niềm tin tưởng của Kitô hữu”[30]. Và Đức thánh cha cũng chứng minh điều đó khi trích dẫn lại lời của Tertuliano: “Và như thế, xác thịt sẽ sống lại hoàn toàn trong mọi người, trong căn tính riêng của nó, trong sự toàn vẹn tuyệt đối của nó. Bất cứ nơi nào có thể, nó được gìn giữ an toàn trong sự hiện diện của Thiên Chúa, qua Đấng trung tín nhất giưa Thiên Chúa và con người, Chúa Giêsu Kitô, Đấng hòa giải con người với Thiên Chúa”[31].
Sở dĩ các Giáo phụ có được niềm tin như vậy là bởi chính sự Phục sinh của Đức Kitô: “Cuộc khải hoàn của Ngài từ trong sự chết cũng là cuộc trở về với sự sống vĩnh cửu của nhân loại”[32]. Thánh Gregorio Nyssy cũng thể hiện niềm hy vọng rằng: “khi lên nơi cao, Ngài đã dẫn theo một đoàn người bị cầm tù, chính Ngài đã ban cho con người sự sống, vương quốc và những ân sủng tuyệt hảo”[33]. Như thế, Gregorio nhìn thấy linh hồn được phục hồi trở lại tình trạng giống Thiên Chúa nhờ ân sủng của Đức Kitô, được thần hóa, được vươn tới Thiên Chúa trong khi chờ đợi hạnh phúc vĩnh cửu. Thân phận phải chết nên thiện ích cho con người. Khi linh hồn lìa khỏi xác, cũng là lúc chấm dứt sự xấu xa hư hoại, nhờ được khôi phục bởi sự phục sinh, con người lại trở nên tuyền vẹn[34].
Tuy nhiên, một câu hỏi được đặt ra là để được sống đời đời, con người phải trải qua cái chết. Vậy liệu có thể có một cuộc sống vĩnh cửu – đời đời – mãi mãi mà không phải chết? Niềm hy vọng sự sống đời đời ấy phải được hiểu thế nào?
Thánh Ambrosio đã cho thấy việc loại bỏ cái chết hay đẩy nó vào một ranh giới vô hạn cũng đặt trái đất và nhân loại vào một tình huống không thể chấp nhận được và không minh chứng được tình trạng hạnh phúc cho từng người[35]. Vậy nên trong lời giã biệt khi chôn cất người em quá cố Satyrus, ngài nói: “Cái chết không thuộc về tự nhiên, nhưng nó đã trở thành tự nhiên. Thiên Chúa đã không tiên liệu cái chết ngay từ đầu, nhưng đã ban tặng nó như phương tiện cứu độ… Vì việc vi phạm nên cuộc sống con người mang đầy khổ cực hàng ngày và thống thiết không chịu đựng nổi và trở nên tội nghiệp. Phải có một điểm chấm dứt khổ cực này, để cái chết hoàn trả lại điều cuộc sống đã đánh mất. Sự bất tử sẽ là gánh nặng hơn hồng ân”[36].
Như vậy, thánh Ambrosio nêu lên nghịch lý trong thái độ sống của con người. Một mặt con người không muốn chết, ước ao một điều gì đó tốt đẹp. Nhưng mặt khác, con người cũng không muốn tiếp tục sống mãi mãi vì sợ buồn chán. Vậy điều con người mong muốn, hy vọng là cuộc sống đích thực nghĩa là gì? Chính thánh Augustino dần dần hé lộ cho biết điều ấy. Trong lá thư gửi bà Proba – một vị góa phụ giàu sang, ngài viết: “Thực sự ta chỉ ước ao một điều – đó là cuộc sống hạnh phúc, cuộc sống thực sự là cuộc sống, chỉ đơn thuần là hạnh phúc… Chúng ta trên đường lữ hành không vì điều gì khác hơn điều duy nhất đó”[37]. Tuy nhiên, thánh nhân cũng cho biết: “chúng ta không biết điều chúng ta đang khao khát là gì; chúng ta không biết chính đời sống đích thực này, nhưng chúng ta biết phải có điều gì hiện hữu mà chúng ta không biết, nhưng thúc đẩy chúng ta tiến đến điều đó”[38]. Và điều chưa biết này là hy vọng đích thực.
Tiếp tục đọc thư của thánh Augustino gửi bà Proba, chúng ta thấy ngài trích Tv 144, 15: “Hạnh phúc thay dân nào được Chúa Trời làm Chúa”. Thánh nhân muốn khẳng định đời sống đích thực này là điều chúng ta cố gắng đạt tới, được liên kết cùng với sự hiện hữu với một “dân”. Nhưng trên hết, hy vọng đích thực vĩ đại và nâng đỡ chúng ta qua tất cả những đổ vỡ, chỉ có thể là Thiên Chúa – vị Thiên Chúa đã yêu thương và đang yêu thương chúng ta cho đến tận cùng, cho đến lúc viên mãn[39]. Bởi vậy, Thánh Augustino đã viết về sự sống đời đời, hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, chiêm ngưỡng và tham dự vào tình yêu của Người như sau: “Khi con người hoàn toàn nên một với Thiên Chúa, thì chẳng còn đau đớn nữa, chẳng còn vất vả nữa; đời con sẽ hoàn toàn sống động, hoàn toàn tràn ngập Chúa”[40].
Ngang qua những điều xác tin của các Giáo phụ, khi nhìn lại cuộc đời mỗi người chúng ta, ai cũng phải thừa nhận rằng con người có những hy vọng lớn nhỏ, ngày qua ngày, thay đổi trong từng giai đoạn. Thời trai trẻ, có thể đó là hy vọng vào tình yêu nồng cháy; hy vọng vào một vị trí cụ thể trong sự nghiệp, vào thành công này hay thành công khác quyết định cho cuộc sống tương lai[41]. Có những lúc con người chìm đắm trong thất vọng ê chề, không tìm ra được lối thoát. Cũng có những khi con người cảm thấy những hy vọng đều đã được thỏa mãn nhưng họ lại cảm thấy không phải là tất cả. Họ cảm thấy cần đến một hy vọng vượt lên trên. Họ cảm thấy cần đến một cái gì đó vô hạn vượt trổi những gì mà họ có thể đạt được. Và hy vọng đích thực đó chỉ có thể là Thiên Chúa, Đấng ôm trọn vũ trụ, Đấng có thể ban tặng chúng ta điều chúng ta không thể tự sức đạt được. Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng, Ngài là Thiên Chúa mang bộ mặt con người và yêu thương chúng ta đến cùng: yêu từng người và ôm trọn cả nhân loại. Chỉ tình yêu của Người mới đem lại cho chúng ta khả năng, kiên vững trong một thế giới tự bản chất là bất toàn, mà không đánh mất sức bật của niềm hy vọng[42].
Như vậy, khi mang nơi mình niềm hy vọng lớn lao nhất, kiên vững nhất là sự sống đời đời mà các Giáo phụ đã tuyên xưng và bảo vệ, chúng ta tìm lại được sức mạnh và ý nghĩa của cuộc sống. Niềm hy vọng này không chỉ là một khát vọng về tương lai mà còn là một nguồn động lực hiện tại, thúc đẩy chúng ta sống đúng với phẩm giá và ơn gọi của mình[43]. Đặc biệt trong Năm Thánh này, chúng ta không được để niềm hy vọng lìa bỏ chúng ta, vì Thiên Chúa đang bước đi với chúng ta bằng tình yêu của Người. Người không để chúng ta đi một mình. Người đã chiến thắng sự dữ và mở ra cho chúng ta con đường sự sống[44]. Ngoài ra, nhờ vào hy vọng được cứu độ, chúng ta sẽ không đi vào ngõ cụt hoặc vực thẳm tăm tối, nhưng sẽ được dẫn lối đến cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa hiển vinh[45] cho dẫu thời buổi này có chao đảo, sự dữ, bạo động bủa vây.
[1]X. ĐTC Phanxico, Sắc chỉ Spes Non Confudit (Hy vọng không làm thất vọng), 9/5/2024, số 8.
[2] X. Ibid, số 15.
[3] X. Ibid, số 13.
[4] Ibid, số 1.
[5] Ibid.
[6] Ibid, số 25.
[7] X. Ibid, số 18.
[8] X. Ibid, số 21.
[9] X. Ibid, số 22.
[10] X. Ibid, số 23.
[11] X. Ibid, số 19 và 20.
[12] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh tập XIV, NXB Tôn giáo, 2016, trang 15 – 89.
[13] X. Lê Gia, Tiếng nói nôm na, TP HCM, 1999, trang 1554.
[14] X. Từ điển Hán Nôm, https://hvdic.thivien.net/hv/hi%20v%E1%BB%8Dng
[15] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh tập III, NXB Tôn giáo, 2016, trang 278 – 279.
[16] X. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, Hà Nội: NXB Tôn giáo, số 1817.
[17] X. Gm Nguyễn Văn Viên, Đức Giêsu Kitô – Đường Hy vọng, 3/10/2022, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-hy-vong-46571.
[18] X. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công giáo, Hà Nội: NXB Tôn giáo, số 1818.
[19] Ibid, số 1843.
[20] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh tập XIV, NXB Tôn giáo, 2016, trang 99 – 100.
[21] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh tập XIV, NXB Tôn giáo, 2016, trang 101.
[22] X. Phan Tấn Thành, Về nguồn, Chân lý, 1999, trang 221 – 224.
[23] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh tập XIV, NXB Tôn giáo, 2016, trang 102 – 103.
[24] X. Jacques Liebaert, Athanase Nguyễn Quốc Lâm và nhóm dịch thuật DCV Sài Gòn dịch, Giáo phụ tập 1, NXB Tôn giáo, Tp. HCM, 2023, trang 93 – 94.
[25] Ibid, trang 94.
[26] Ibid.
[27] Johannes Quasten, Đỗ Huy Nghĩa và Anh em Học viện Đaminh dịch, Nhập môn Giáo phụ 1, NXB Hồng Đức, Tp. HCM, 2024, trang 253.
[28] Ibid.
[29] Tertuliano, De resurrection carnis (Liên quan đến sự phục sinh của xác thịt), 7,7.
[30] X. ĐTC Benedicto XVI, Giáo lý về các Giáo phụ, Tiếp kiến chung, Hội trường Phaolo VI, thứ 4, 30/5/2007.
[31] Tertuliano, De resurrection carnis (Liên quan đến sự phục sinh của xác thịt), 63,1.
[32] Jacques Liebaert, Athanase Nguyễn Quốc Lâm, Giáo phụ tập 2, trang 123.
[33] Gregorio Nyssy, Bài giảng Đức Kitô phục sinh – phục hồi mọi loài trở lại tình trạng ban đầu.
[34] X. Jacques Liebaert, Athanase Nguyễn Quốc Lâm, Giáo phụ tập 2, trang 124.
[35] X. Đức Thánh Cha Benedicto XVI, Thông điệp Spe Salvi – Về niềm hy vọng Kitô giáo, số 11.
[36] Ambrosio, De excessu fratris sui Satyri, II, 47.
[37] Augustino, Thư cho bà Proba.
[38] Ibid.
[39] X. Ga 13,1; 19,13.
[40] Augustino, Tự thuật, X, 28.
[41] X. Đức Thánh Cha Benedicto XVI, Thông điệp Spe Salvi – Về niềm hy vọng Kitô giáo, số 30.
[42] X. Ibid, số 31.
[43] X. ĐTC Phanxico, Sắc chỉ Spes Non Confudit (Hy vọng không làm thất vọng), 9/5/2024, số 18.
[44] X. Đức Thánh Cha Phanxico, Giáo lý về Đức Cậy, Tiếp kiến chung, thứ 4, 7/12/2016.
[45] X. Ibid, số 19.
— Mary Magdalene, C.M.R —






