Dẫn nhập
“Thiên Chúa chẳng hề nhàm chán đối với việc tha thứ tội lỗi chúng ta. Chỉ có chúng ta nhàm chán không kêu cầu tới lòng nhân hậu của Người”. Lời Đức thánh cha Phanxico như nhắc nhớ cho chúng ta mỗi khi hồi tâm, suy xét về những giới hạn, bất toàn, tội lỗi của mình để cảm nghiệm sâu hơn về Thiên Chúa rất mực và mãi mãi yêu thương. Thiên Chúa chấp nhận chúng ta trong sự yếu đuối của thân phận con người. Ngài bày tỏ sự trung tín qua việc chờ đợi và tha thứ cho chúng ta được ở bên Người và giúp chúng ta có thể trung thành với Người. Và trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ, dân Israel cũng bao phen lầm đường lạc lối, nhưng chính Thiên Chúa đã đưa họ về chính lộ, cho họ sống lại giao ước Thiên Chúa đã kí kết, và để cho họ đến với ơn cứu độ.
Bởi vậy, trong bài này, người viết muốn khái quát sự trung tín của Thiên Chúa để đối lại sự bất trung của Israel đã được các Sách lịch sử nêu bật. Đồng thời, bài viết cũng cho thấy đỉnh điểm sự trung tín của Thiên Chúa được thể hiện nơi Đức Kitô.
- Bức tranh trung tín: Thiên Chúa trung tín, Ngài mời gọi con người trung tín
Lịch sử cứu độ là lịch sử giao ước của tình yêu giữa Thiên Chúa và con người. Thánh kinh trình bày những bước đường Thiên Chúa thực hiện lời hứa của Người trong sự trung tín tuyệt đối của mình: Thiên Chúa không thể không trung tín vì đó là bản chất của Ngài (2Tm 2, 13). Bởi thế có thể nói “Thiên Chúa trung tín” là đề tài nổi bật được các tác giả đề cập đến (St 24, 27; 32, 11; 2Sm 2,6; 15, 20; Tv 30, 10; 31, 6….)[1].
Đối với Thánh kinh, trung tín là một thuộc tính lớn lao của Thiên Chúa (Xh 34, 6), thường được kết hợp với lòng nhân từ của người cha đối với dân của Giao ước[2]. Sự trung tín của Thiên Chúa vượt trên tất cả những bội phản, bất trung của dân Người. Qua các tổ phụ và ngôn sứ, Thiên Chúa không ngừng lặp lại lời hứa cứu độ và giữ giao ước mà Người đã hứa: “Lòng trung thành của Thiên Chúa đối với dân Người trong việc trao Đất hứa cho họ”[3] (Gs 11, 23; 21, 43-45; 23, 14-15a). Thiên Chúa trung tín khi Người thực hiện những gì Ngài phán, ngay cả khi điều đó dường như không thể thực hiện được (2Sm 7, 28; 1V 8, 56; Nkm 9, 33). Như vậy, khi trung tín với lời hứa là Thiên Chúa trung tín với chính mình. Chính vì trung tín mà lời Thiên Chúa không qua đi, nhưng vĩnh cửu (x Tb 14, 4)[4] .
Bên cạnh đó, sự trung tín của Thiên Chúa trong Thánh kinh cũng thường được liên kết với lòng nhân từ phụ tử của Người đối với dân Israel. Lòng nhân từ của người cha ấy luôn bao bọc, chở che, tha thứ và mong mỏi con cái trở về (Tl 2, 11-19). Thiên Chúa luôn tỏ lòng nhân từ với lỗi lầm của dân Người. Người không thay đổi khi con người đổi thay nhưng bất biến trong sự trung tín[5].
Mặc dù Thiên Chúa luôn trung tín nhưng sự trung tín đó không phải lúc nào cũng tỏ tường. Thiên Chúa giáo dục dân Người cách tiệm tiến: có lúc Người tỏ mình ra dạy dỗ dân, nhưng cũng có lúc Thiên Chúa ẩn mình, như trong các cuộc lưu đày (2V 17, 5-23; 2 V 23, 10-27; 18, 9-12; 25, 8-21; 2Sbn 36,10) để dân Người ngày một trưởng thành trong niềm tin vào Người. Thiên Chúa ẩn mình để đứa con tìm kiếm, nhưng Người không bỏ mặc, Người vẫn luôn dõi nhìn đứa con. Quả thật, trung tín và thử thách luôn đi đôi với nhau, Thiên Chúa đã dùng thử thách để tôi luyện dân. Bởi thế, để trung tín với Thiên Chúa, con người cũng phải chấp nhận những khốn khó, đau khổ xảy đến với bản thân hay gia đình (1Sm 8, 1-9; 4, 1-11; Gs 7, 6-9).
Như vậy, lịch sử cứu độ được tóm lại trong một chủ đề có hai mặt: “Thiên Chúa trung tín với các giao ước của Ngài, nhưng dân Chúa thì bất trung”[6]. Kinh thánh cho thấy Thiên Chúa không bao giờ yêu cầu bất cứ điều gì nơi chúng ta mà Ngài đã không yêu cầu nơi chính Ngài trước. Vì thế, nếu Thiên Chúa kêu gọi chúng ta sống trung tín, thì có nghĩa rằng Ngài sẽ cung cấp cho chúng ta một gương mẫu trung tín[7]. Thiên Chúa luôn mời gọi ta cầu nguyện để nhận được từ Ngài sự trung tín (1V 8, 56) và thôi đáp trả sự trung tín của Người bằng sự bất kính (Nkm 9,33)[8]. Chính bởi Thiên Chúa trung tín nên Người luôn kêu gọi dân trung tín với Người. Thế nhưng, lịch sử lại cho thấy biết bao sự bất trung của Israel với Thiên Chúa.
- Bức tranh bất trung: Israel bất trung
Nếu như Thiên Chúa là Đấng trung tín, thì con người lại dễ dàng phản bội. Đã bao lần Thiên Chúa yêu thương bao bọc và chở che tha thứ, nhưng con người vẫn chống lại Người[9]. Tiêu biểu cho điều đó chính là sự bất trung của những người lãnh đạo dân là các vua và các tư tế. Khi vua, tư tế phạm tội thì dân chúng phạm theo. Và có thể thấy rằng, vua và dân phản bội, chạy theo tà thần chính là hình ảnh ảm đạm của thời quân chủ ở Giuda và Israel[10].
Trước khi bước vào thời quân chủ, các tư tế vẫn là những người lãnh đạo dân. Nhưng trong số đó, cũng có những vị “vô lại, không biết gì đến Đức Chúa” (1Sm 2,12). Bởi thế, Hòm Bia Đức Chúa đã rời khỏi Silo vì các tư tế ở đó không trung thành (1Sm 2,12-17.22-25). Đến thời quân chủ, khi đã có vua, tưởng chừng cục diện có thể thay đổi. Nhưng, ngay từ vị vua đầu tiên là Saun, vua đã là người bất trung. Khi thần khí Đức Chúa rời khỏi và thần khí xấu đến ám vua (x. 1Sm 16,14), vua Saun đã không thực hiện lệnh tru hiến của Đức Chúa khi chiến thắng người A-ma-léc (1Sm 15,1-9). Vua còn lấn sân sang vai trò tư tế khi tự ý dâng lễ toàn thiêu và kì an lên Đức Chúa (x. 1 Sm 13,8-15). Đặc biệt, vua đã minh nhiên chối bỏ Đức Chúa khi tìm đến bà đồng bóng để thỉnh ý (1Sm 28,3-25). Với những sự bất trung của vua Saun như vậy, vua đã bị Đức Chúa từ bỏ (x. 1Sm 15,10-23).
Sự bất trung với Thiên Chúa vẫn tiếp tục nơi các vua của Israel: Đa-vít phạm tội ngoại tình (2Sm 11,1-27) và kiểm tra dân số (2Sm 24,1-9; 1Sbn 24,1-6). Sa-lô-mon thờ lạy các thần của vợ (1V 11,1-13). Hai vị vua được coi là vô đạo, bất trung nhất của Israel là vua Mơ-na-se và Amon (2V 21,1-6; 2Sbn 33, 1-25). Vua Rơ-kháp-am bất trung khi bỏ lề luật Thiên Chúa (2Sbn 12,1-16). Vua Giơ-hô-ram thì thờ lạy các thần khác (2Sbn 21,2-20) … Tuy nhiên, sự bất trung của Israel không chỉ dừng lại ở từng cá nhân, nhưng còn là tội của cả dân tộc. Điều này được thấy rõ trong sách Thủ lãnh. Một “môtip” chung của trào lưu Đệ nhị luật được áp dụng cho tất cả các câu chuyện về các Thủ lãnh: Tội – Phạt – Hối – Cứu.
Khởi đầu luôn là “tội” của Israel: “Con cái Israel làm điều dữ trước mắt Đức Chúa” (2,2; 3,7.12; 4,1; 6,1; 10,6; 13,1) hay là “họ đã lìa bỏ Đức Chúa để làm tôi thần Baan và các nữ thần At-tô-rét” (2,11.13; 13,7). Chính vì thế, hậu quả là “hình phạt” của Thiên Chúa: “Đức Chúa nổi cơn thịnh nộ, Người bỏ họ, trao vào tay… Người củng cố … để chống lại Israel. Họ phải chịu đựng kẻ thù trong … năm” (2,14; 3,8; 4,2; 6,1; 10,7). Khi đã chịu sự áp bức của kẻ thù, con cái Israel “hối hận”, ăn năn sám hối và kêu lên Đức Chúa (3,9.15; 4,3; 6,6; 10,10). Và Đức Chúa đã đáp lại lời nài van của dân bằng cách cho xuất hiện một vị thủ lãnh (2,16) hoặc một vị cứu tinh (3,19.15)[11]. Thế nhưng, “ngay sau khi vị thủ lãnh qua đời thì họ lại ra hư đốn hơn cả cha ông họ. Họ chạy theo các thần ngoại để làm tôi và sụp lạy chúng, chứ không từ bỏ những hành vi và đường lối ngoan cố của họ” (Tl 2,19). Và cứ như thế, khuôn mẫu này được lặp đi lặp lại suốt thời các thủ lãnh. Đó là một vòng luẩn quẩn của tội lỗi.
Như vậy, khi trình bày các trình thuật về các thủ lãnh, tác giả muốn nhấn mạnh đến sự trung tín và lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa đối với dân chúng và vị thủ lãnh, nhưng cũng chỉ ra những sự bất trung của dân: mau chóng quên mất bài học và quay trở lại con đường gian ác cũ, chạy theo các thần ngoại và lại phạm tội tồi tệ hơn trước. Cùng với đó, truyền thống Đệ nhị luật trong khung “tội – phạt – hối – cứu” cũng muốn nêu bật sứ điệp là Thiên Chúa sẽ ở với Israel nếu họ trung thành, nhưng sẽ để họ rơi vào tay quân thù nếu họ phản bội[12]. Tuy nhiên, Kinh thánh không chỉ nêu những sự bất trung của Israel, nhưng trong đó, ta cũng thấy những gương mặt đã trung thành với Thiên Chúa.
Sách Giô-suê đã làm nổi bật việc Thiên Chúa ban Đất Hứa cho Israel, và Chúa cũng đòi hỏi sự trung thành của ông Giô-suê (1,6-8) và của Israel: dân có nhiệm vụ tuân giữ, thực hành mệnh lệnh và lề luật mà ông Mose đã truyền (22,5; 23,6), tức là không lui tới với dân ngoại (23,7.12b), không kêu tên các thần, không phụng thờ chúng (23,7b), yêu mến Thiên Chúa và gắn bó, phụng sự Người (22,5b; 23,8)[13].
Vua Đa-vít cũng được gọi là người trung tín, kính sợ Thiên Chúa khi tôn trọng, tha chết cho người được Đức Chúa xức dầu là Saun dù có nhiều cơ hội để giết và chiếm quyền (1Sm 24, 1-23; 26,1-25). Vua đã luôn bước theo lề luật và lệnh truyền của Đức Chúa (1V 3,14), đi trước mặt Đức Chúa với trái tim ngay thẳng và đoan chính (1V 9,4), thật lòng, hoàn toàn bước theo Đức Chúa (1V 11,4.6; 11,38; 14,8; 2V14,3; 2V22,2…)[14]. Như vậy, vua Đa-vít trở thành mẫu mực cho sự trung tín, cho dù vua cũng vấp phải lỗi lầm, nhưng vua đã hối cải và được Thiên Chúa tha thứ. Sự trung tín của vua Đa-vít được gọi là “sự trung tín hoán cải”[15].
Một minh họa khác về lòng trung thành với Thiên Chúa là câu chuyện về bà Rút. Bà đã thể hiện lòng trung thành với người chồng quá cố của mình (R 1,8). Khi bà Na-o-mi ép các con dâu trở về với quê hương, Rút một mực từ chối, Rút đã thề sẽ theo mẹ chồng cho đến chết: “Xin mẹ đừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ đi đâu, con đi đó, mẹ ở đâu, con ở đó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con. Mẹ chết ở đâu, con chết ở đó, và nơi đó con sẽ được chôn cất. Xin Đức Chúa phạt con thế này và thêm thế kia nữa, nếu con lìa xa mẹ mà không phải vì cái chết!” (R 1, 16-17). Khi Rút nói “Thiên Chúa của mẹ cũng là Thiên Chúa của con” thì như khẳng định rằng cô đã chọn dân Israel và trung thành với Thiên Chúa độc nhất của Israel[16]. Chính thái độ dứt khoát này đã khiến Thiên Chúa chấp nhận và ban thưởng cho Rút khi dẫn cô đến với Bô-át (R 2,20). Với sự trung thành đầy yêu thương, Rút đã trở thành tổ mẫu của vua Đa-vít và một phần trong gia phả của Đấng Kitô (R 4, 18-22)[17].
Sự trung tín với Thiên Chúa cũng được thể hiện rõ nơi Sách Ma-ca-bê. Khi những người Do thái thỏa hiệp với phong trào Hy lạp hóa bằng việc vi phạm lề luật, thì sẽ phải gánh chịu những tai ương trong thời Xê-lêu-xit. Còn khi trung thành với lề luật cũng là cách diễn đạt tình yêu trung thành của dân Israel với Thiên Chúa[18]. Và những gương trung thành tiêu biểu là ông Mát-tít-gia và các con (1Mcb 2,15-70), ông Ê-la-da (2Mcb 6,18-31) và bà mẹ với bảy người con (2Mcb 7,1-42).
Như vậy, mặc dù bối cảnh Israel bất trung như thế, ta cũng tìm thấy những gương mẫu đã trung tín với Thiên Chúa. Thế nhưng, sự trung tín “của” Thiên Chúa và “với” Thiên Chúa chỉ được thể hiện rõ nhất nơi Đức Giê-su Ki-tô[19] – “Đấng trung tín của Chúa Cha và vì thế cũng là Đấng trung tín với nhân loại”[20].
- Đức Giê-su Ki-tô – Đấng trung tín
Đức Giêsu là hiện thân của Thiên Chúa trung tín mà Cựu ước diễn tả. Việc Đức Ki-tô đến, qua cuộc Nhập thể của Người, Lời hứa được thực hiện. Đức Giê-su là chứng nhân trung thành (Kh 1, 5), tôi tớ trung tín và chân thật (Kh 19,11)[21]. “Người đến hoàn thành các Sách và công trình của Cha Người (Mc 10,45; Lc 24,44; Ga 19,28.30; Kh 19,11…).
“Nhờ Người mà mọi lời hứa của Thiên Chúa được giữ (2 Cr 1,20); trong Người là ơn cứu độ và vinh quang của những ai được tuyển chọn (2 Tm 2,10); với Người, con người được Cha kêu gọi đi vào hiệp thông; và chính bởi Người mà các tín hữu sẽ được củng cố và giữ trung thành với ơn gọi của mình đến cùng (1 Cr 1,8…). Sự trung tín của Thiên Chúa (1 Tx 5,23…), Đấng không đổi ý khi ban ơn (Rm 11,29), được tỏ bày viên mãn nơi Ngài, và chính sự chịu đựng của Đức Kitô mà sự trung tín của Thiên Chúa nghiêng theo để làm cho kiên vững trong trung thành (2 Tx 3,3…)”[22].
Kinh thánh cho thấy sự trung tín của Đức Giê-su đối với ý muốn của Thiên Chúa trong việc Nhập thể và lối sống của Người[23]. Đó là dịp lên Giê-ru-sa-lem khi Đức Giê-su 12 tuổi (Lc 2,48-49). Khi đi giảng dạy, Đức Ki-tô là chứng nhân trung thành, dạy bảo con người về sự trung thành. Người cho các môn đệ biết “người trung tín là người luôn dành toàn tâm, toàn ý, toàn trí, toàn lực để phục vụ chủ mình” (Lc 16,13). Đức Giê-su mời gọi mọi người, trước hết hãy trung tín với Thiên Chúa là Cha của Người như Người đã thực hiện (Ga 5,24)[24]: Đức Giê-su đã trung tín với Chúa Cha qua việc vâng phục những đòi hỏi của Luật, Tin mừng cho thấy Đức Giê-su là “một tín hữu” trung tín: vào hội đường ngày Sa-bát (Lc 4,16), tôn trọng luật (Mt 5,17; 8,4)[25]. Đức Giê-su cũng cho thấy đường lối sư phạm của Người về sự trung tín trong việc nhỏ, để trung tín trong việc lớn (Lc 16,10). Và chính Đức Giê-su hứa ban phần thưởng là sự sống đời đời cho ai trung tín với Người (Mc 10, 29-30)[26].
Nhưng cao cả hơn hết, sự trung tín của Đức Giê-su cho đến cùng chính là sự vâng phục cho đến cùng (Pl 2,8) và tình yêu trung tín của Người được diễn tả qua thập giá trên đỉnh Can-vê. “Trong vườn Cây Dầu, hình ảnh cái chết đã hiện ra trước mắt, đau khổ, nhục nhã quá sức chịu đựng của con người, nỗi sợ hãi bao lấy Đức Giê-su, để rồi, máu theo mồ hôi chảy ra ngoài. Bằng hơi thở thều thao, khiếp kinh, Người đã kêu lên: “Áp-ba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con”. Người cũng xao xuyến, cũng sợ hãi. Đó là tâm trạng muốn tháo lui của con người trước nghịch cảnh khổ đau”[27]. Như vậy có thể thấy rõ Đức Giê-su không phải là người muốn đi tìm cái chết, nhưng Người muốn tiếp tục trung tín với Chúa Cha và phục vụ loài người, dù phải trả giá bằng mạng sống. Quả thật, Đức Giê-su đã hiến dâng đời sống và hành động của mình để chu toàn sứ mạng mà Chúa Cha ủy thác. Chính do tình yêu mà Người trung thành để rồi chết trên thập giá mà cứu độ loài người[28].
Có thể tóm lại rằng:
“Với hành trình trần thế, Đức Giê-su vừa diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa đối với con người vừa diễn tả sự trung tín của con người đối với Thiên Chúa. Chính Đức Giê-su đã minh chứng Người là Đấng trung tín của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống Người. Là Thiên Chúa, Đức Giê-su cho mọi người biết rằng Thiên Chúa luôn trung tín chờ đợi sự hoán cải, trở về của con người, đồng thời, Người cũng ban dồi dào ơn lành cho những ai trung tín. Là con người, Đức Giê-su diễn tả cách thức thể hiện sự trung tín đối với Thiên Chúa. Đặc biệt, nhân danh toàn thể nhân loại, Đức Giê-su diễn tả Người là Thượng Tế, Bàn Thờ và là Con Chiên hầu đền tội cho nhân loại và phụng thờ Thiên Chúa”[29].
Kết luận
Suốt chiều dài lịch sử, dân Israel đã bao lần hứa trung tín với Chúa, nhưng cũng bằng ấy lần họ đều bội phản. Sự bất trung của Israel càng lớn thì sự trung tín của Thiên Chúa càng được phản ảnh rõ. Bức tranh bất trung của Israel càng lớn thì ánh sáng của sự trung tín nơi Thiên Chúa càng rực rỡ. Và ánh sáng trung tín ấy sẽ lan tỏa, thay thế cho những bóng tối của bất trung.
Quả thật, đến muôn đời Chúa vẫn là Thiên Chúa của tình yêu và trung tín. Sự trung tín của Thiên Chúa được diễn tả cách cụ thể trong chương trình cứu độ nhân loại được Đức Giê-su thực hiện. Đức Giê-su đã trung tín từ khi Nhập thể cho đến cái chết. Người còn trung tín ở lại với mọi người trong gia đình nhân loại cho đến ngày tận thế trong Bí tích Thánh Thể[30]. Người luôn mời gọi, đòi hỏi chúng ta chống lại kẻ cám dỗ, kẻ xấu xa, cuộc chiến này buộc phải tỉnh thức và cầu nguyện (Mt 6,13; 26,41; 1Pr 5,8…). Và vào thời sau hết, họ sẽ được ân sủng từ máu của Con Chiên (Kh 7,14; 12,11)[31].
[1] x. Mathew Vũ Lượng, OP, “Thiên Chúa trong Cựu ước là Thiên Chúa của tình yêu, nhân hậu và trung tín”, (ngày 23 tháng 09 năm 2018), https://catechesis.net/thien-chua-trong-cuu-uoc-la-thien-chua-cua-tinh-yeu-nhan-hau-va-trung-tin/
[2] X. CS&MFL, “Trung thành”, Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Giáo hoàng học viện Pio X, Đà Lạt, 1976.
[3] Lm Inhaxio Nguyễn Ngọc Rao, OP, “Lịch sử dân Thiên Chúa trong Cựu ước”, lưu hành nội bộ, trang 31.
[4] x. Mathew Vũ Lượng, OP, “Thiên Chúa trong Cựu ước là Thiên Chúa của tình yêu, nhân hậu và trung tín”, ibid.
[5] Ibid.
[6] Lm Montfort Phạm Quốc Huyên, “Trung tín và đời sống thánh hiến trong thời hậu hiện đại”, Nxb Hồng Đức, 2022, trang 68.
[7] X. Ibid, trang 69.
[8] X. TGM Giuse Vũ Văn Thiên, “Đấng tín trung”, https://gpcantho.com/dang-tin-trung/
[9] X. Ibid.
[10] X. Dẫn nhập sách 1 Vua trong Kinh thánh của PVCGK, trang 604.
[11] X. Lm Inhaxio Nguyễn Ngọc Rao, OP, “Lịch sử dân Thiên Chúa trong Cựu ước”, trang 51.
[12] X. Tài liệu bài 3 của cha
[13] X. Dẫn nhập sách Giô-suê
[14] X. Lawence Boadt, “Dẫn vào Cựu ước”, Nxb Đồng Nai, 2022, trang 285-286.
[15] Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Đức Giê-su Ki-tô – Đường trung tín”, (ngày 01 tháng 06 năm 2022), https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-trung-tin-46071.
[16] X. Chú thích p trang 490.
[17] X. Samuel Saldivar, “The faithfull of God”, https://www.thegospelcoalition.org/essay/faithfulness-of-god/
[18] X. Dẫn nhập sách Mcb
[19] X. Samuel Saldivar, “The faithfull of God”, https://www.thegospelcoalition.org/essay/faithfulness-of-god/
[20] CDS2, “Hồng ân trung tín và niềm vui kiên trì (p2)”, (ngày 03 tháng 02 năm 20230, https://catechesis.net/hong-an-trung-tin-va-niem-vui-kien-tri_phan-2-nhen-nhum-len-ngon-lua-nhan-thuc/
[21] X. Ibid.
[22] CS&MFL, “Trung thành”, Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Giáo hoàng học viện Pio X, Đà Lạt, 1976.
[23] X. Lm Montfort Phạm Quốc Huyên, “Trung tín và đời sống thánh hiến trong thời hậu hiện đại”, trang 71.
[24] X. Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Đức Giê-su Ki-tô – Đường trung tín”.
[25] X. Lm Montfort Phạm Quốc Huyên, “Trung tín và đời sống thánh hiến trong thời hậu hiện đại”, trang 71.
[26] X. Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Đức Giê-su Ki-tô – Đường trung tín”.
[27] JB Lê Hoàng Huynh, OP, “Đức Ki-tô đã vâng lời cho đến chết” (ngày 29 tháng 03 năm 2010), http://daminhvn.net/suy-tu-nghien-cuu/duc-kito-da-vang-loi-cho-den-chet-6662.html
[28] X. Banabas M. Ahern, “Thần học thập giá trong lịch sử Giáo hội” (ngày 06 tháng 04 năm 2022), https://catechesis.net/than-hoc-thap-gia-trong-lich-su-giao-hoi/
[29] Gm Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Đức Giê-su Ki-tô – Đường trung tín”.
[30] X. Ibid.
[31] X. CS&MFL, “Trung thành”, Điển ngữ Thần học Thánh Kinh, Giáo hoàng học viện Pio X, Đà Lạt, 1976.
— Mary Magdalene, C.M.R —






