Dẫn nhập
Dân gian thường có câu: “Ăn no mặc ấm” hay “Ăn ngon mặc đẹp”. “Đồ ăn” và “áo mặc” là những điều luôn được nhắc đến và đi liền với nhau để nói về đời sống. Trong đó, y phục là một trong những điều kiện cần thiết và căn bản để đảm bảo cho đời sống của một con người. Đã là người thì cần phải ăn, phải có chỗ ở và hơn nữa, con người cũng cần có áo mặc. Y phục đóng vai trò thiết yếu cho đời sống con người không những vì mục đích che phủ cho thân xác mà còn là biểu tượng của những ý nghĩa thiêng liêng. Cùng tìm hiểu một vài điểm sau đây về “Y phục trong Kinh Thánh” để thấy được y phục là phản ảnh trật tự của thế giới đã được Tạo Hoá an bài, mặt khác nó cũng chỉ lời hứa ban lại vinh quang mà nguyên tổ đã đánh mất nơi vườn địa đàng[1].
- Y phục là phản ảnh trật tự của thế giới
1.1. Y phục và nhân vị
Trước hết, mục đích của y phục là để che phủ thân thể hoặc bảo vệ thân xác khỏi những tác động xấu của hoàn cảnh bên ngoài như thời tiết, môi trường sống… Ngoài ra, việc một người mang y phục cũng nhằm mục đích để giản lược cái nhìn về nhân vị đó như đối tượng của dục tính[2]. Con vật không cần mặc áo quần, không cần che phủ thân mình như con người. Chỉ có con người với tư cách là một nhân vị thì y phục là điều cần thiết và tối thiểu để được tôn trọng và nhìn nhận phẩm giá. Với ý nghĩa này, trong Kinh Thánh cũng đưa ra những luật cấm cho thấy vai trò của y phục là để bảo vệ đời sống riêng tư của mỗi người. Điều này có thể tìm thấy trong St 9,20-27 nói về luật bảo vệ các bậc cha mẹ, đảm bảo cho họ có y phục kín đáo và không ai được phép thấy họ mình trần. Ngay cả đối với anh em cùng huyết thống cũng được Kinh Thánh nói đến trong St 34. Hoặc việc lột trần người khác cũng là điều bị cấm ngặt đã được trình bày trong Lv 18.
Ngoài việc che phủ thân thể cũng như bảo vệ sự riêng tư của một nhân vị, y phục còn biểu lộ sự khác phái và còn là biểu tượng cho sự liên lạc giữa hai phái tính[3]. Người nam và người nữ có những y phục riêng của phái mình, không có chuyện đàn ông ăn mặc như đàn bà và ngược lại. Sách Đệ nhị luật chỉ thị một cách rõ ràng và cụ thể khi nói rằng đàn ông không được mang y phục đàn bà và đàn bà không được mặc quần áo đàn ông. Kinh Thánh khẳng định nếu xảy ra việc đó thì đây là điều ghê tởm đối với Đức Chúa (x. DNL 22,5). Đàn bà phải che mặt vì những lý do nhất định như trong cuộc gặp gỡ trước đính hôn (x. St 24,65). Hoặc việc người đàn ông giăng vạt áo ra để che phủ lên mình người phụ nữ không ám chỉ việc chiếm đoạt nhưng thể hiện người đàn ông chia sẻ vinh dự của bản thân cho người phụ nữ cũng như là dấu chỉ bảo vệ hay sở hữu như trường hợp của bà Rút[4]. Ngoài ra, chỉ có phụ nữ mới được ca tụng vì biết dệt may y phục (x. Cn 31,21-14) và được khuyến khích để ăn mặc đoan trang (x. 1Pr 3,3).
Đời sống con người là một đời sống liên nhân vị. Vì thế, y phục còn là sự phản ảnh của đời sống xã hội[5]. Trong cộng đoàn, y phục của mỗi thành phần biểu hiện những nét riêng biệt về địa vị cũng như công việc đặc trưng. Những tư tế có phẩm phục đặc biệt, quý giá và cầu kỳ và được dành riêng để thi hành chức tư tế (x. Xh 28,1-5). Y phục giàu sang là dấu hiệu của địa vị và quyền bính như trường hợp của vua Pharaô rút nhẫn khỏi tay và xỏ vào ông Giuse, mặc cho ông y phục là vải gai mịn và đeo vào cổ ông chiếc vòng vàng (x. St 41,42). Với tình cảm bạn bè, thân hữu, y phục cũng là biểu trưng đặc biệt khi trao tặng áo ngoài cho nhau (x. 1Sm 18,3).Trong đời sống lứa đôi, những người yêu nhau cũng nhận ra nhau qua hương thơm từ y phục toả ra (x. DC 4,11). Đặc biệt, y phục còn là biểu hiện rõ ràng của đức ái và đức công bình trong đời sống xã hội. Mặc quần áo cho người trần truồng hay thực thi hành động cho người khác cả áo ngoài của mình(x. Mt 5,40) là giúp cho họ được tái sinh vào đời sống cộng đoàn đồng thời ám chỉ việc trao ban chính bản thân mình cho người xin.
1.2. Y phục và những phận vụ của con người
Trong cuộc sống, một người được gắn với những bổn phận và trách nhiệm có khi thay đổi theo từng thời kỳ hoặc hoàn cảnh. Những phận vụ ấy có thể là phàm tục hoặc việc thánh. Khi thay đổi phận vụ thì y phục cũng cần được thay đổi để phù hợp với những phận vụ ấy. Trước hết, thay đổi y phục là dấu loại bỏ sự ô uế, loại bỏ các thần ngoại để bước vào nơi linh thánh tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất: “Ông Gia-cóp bảo gia đình ông và tất cả những người cùng đi với ông: Hãy loại bỏ các thần ngoại bang ở giữa các ngươi, hãy tẩy uế mình và thay áo” (x. St 35,2). Kế đến, việc thay đổi y phục cũng được nói tới trong Lv 13-15 với ý nghĩa thanh tẩy sự ô uế để mặc lấy sự trong sạch. Sau cùng, y phục của một người cũng thể hiện chức vị của người đó trong Israel. Chẳng hạn, y phục của vua luôn là áo cẩm bào có khuy cài áo bằng vàng (x. 1Mcb 11,58/14,44). Công việc của bậc ngôn sứ thì mang y phục là áo lông thú có thắt lưng bằng dây da: “Ông Gioan mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn” (x. Mt 3,4).
- Y phục là biểu tượng thiêng liêng
2.1. Nơi vườn địa đàng
Với con mắt bình thường, ta chỉ thấy vai trò rất tự nhiên của y phục là điều tất yếu của một nhân vị cần có, đồng thời y phục cũng gắn liền với phận vụ của mỗi người. Tuy nhiên, dưới nhãn quan của con mắt đức tin, y phục còn là dấu chỉ tình trạng thiêng liêng của con người. Câu chuyện sa ngã của nguyên tổ nơi vườn địa đàng cho thấy rõ ý nghĩa thiêng liêng ấy. Sau khi phạm tội bất tuân Thiên Chúa, mắt Ađam và Evà mở ra và họ thấy mình trần truồng (x. St 3,7) – điều mà họ chưa hề thấy trước khi phạm tội. Mắt ông bà mở ra và họ ngạc nhiên trước sự trần truồng của mình. Ông bà nguyên tổ cảm thấy một sự khiếm khuyết trước nhan Thiên Chúa và họ cũng xấu hổ với nhau. Lúc này họ kết lá che thân để che phủ đi sự xấu hổ và ẩn núp nhan Thiên Chúa. Họ đã đánh mất mối thân tình với Thiên Chúa và tự nhiên với nhau. Tuy nhiên, “Đức Chúa là Thiên Chúa làm cho con người và vợ con người những chiếc áo bằng da và mặc cho họ” (St 3,21). Với hành động này, Thiên Chúa bao bọc họ bằng thứ y phục của ân sủng vì Ngài không huỷ bỏ sự khốn cùng của con người nhưng con người vẫn được mời gọi để sống phẩm giá mà họ đã đánh mất. Như vậy, nơi vườn địa đàng, với chiếc áo bằng da mà Thiên Chúa mặc cho con người, y phục mang ý nghĩa là phẩm giá của con người và khả năng của con người mặc lại vinh quang mà họ đã đánh mất[6].
2.2. Lịch sử Giao ước
Sau Giao ước đầu tiên nơi vườn địa đàng, lịch sử cứu độ vẫn được biểu trưng qua y phục. Với nhiều lần ký kết Giao ước với con người, Thiên Chúa bày tỏ vinh quang cho dân Ngài cách thân tình. Vinh quang đó được biểu lộ qua hình ảnh Thiên Chúa như một vị vua che phủ Đền thờ bằng vạt áo choàng (x. Is 6,1), hay Ngài như vị hôn phu kéo vạt áo choàng che phủ trên dân và mặc cho họ áo bằng vải tía, vải điều, vải gai mịn (x. Xh 28,5). Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và không ngừng kêu gọi dân sám hối, tin tưởng và bước đi trong đường lối thánh thiện. Tuy nhiên, đi xa đường lối ngay thẳng và thói thờ ngẫu tượng luôn là hành động mà dân đáp trả lại lòng trung tín và yêu thương của Thiên Chúa. Kinh Thánh biểu trưng điều đó qua hình ảnh sống sượng của vị hôn thê tự thoát y và hiến thân cho mọi người. Vị hôn thê lấy áo mà trang hoàng cho tế đàn và đàng điếm trên các tế đàn, lấy áo sặc sỡ để mặc cho các tượng ảnh (x. Ed 16,15-19).
Lịch sử Giao ước là lịch sử về sự kiên nhẫn và đầy yêu thương của Thiên Chúa dành cho con người. Dù con người gạt bỏ Thiên Chúa để tôn thờ các thần ngoại, Thiên Chúa vẫn hết lần này tới lần khác gửi các ngôn sứ đến kêu gọi họ tỏ lòng sám hối để trở về với Thiên Chúa. Hình ảnh dân khoác trên mình tấm áo vải thô là y phục biểu trưng cho lòng sám hối ăn năn trở về với Thiên Chúa. Đến đỉnh điểm của cơn thịnh nộ tiêu diệt, Thiên Chúa dùng “liều thuốc đắng” là cuộc lưu đầy cùng khốn. Dù thế, ngôn sứ Isaia tiên báo ngày dân được hồi hương trong lòng thương xót con dân của Thiên Chúa. Hình ảnh về Đấng giải thoát dân được ngôn sứ Isaia nói tới là hình ảnh về Người Tôi Tớ đau khổ. Một “Tôi Tớ” không nhan sắc, không ăn mặc lộng lẫy chữa cho dân khỏi những đam mê bằng cách tự hạ cho đến chết (x. Is 53,12).
2.3. Đức Kitô tỏ bày áo vinh quang
Tân ước tiếp tục trình bày “Người Tôi Tớ” đích thực là chính Đức Kitô. Ngài là Thiên Chúa thật đến nhập thể và nhập thế cách thật sự nơi cuộc sống của con người ngoại trừ tội lỗi. Đức Kitô đến nhân gian để cứu độ nhân loại, nhưng trước hết, Ngài cho con người thấy bộ mặt hư nát, chóng qua của những thứ bên ngoài tạm bợ, mau hư nát theo thời gian. Trong hành trình rao giảng, Chúa Giêsu nói với các môn đệ đừng lo về của ăn áo mặc, nhưng trước hết hãy lo tìm kiếm nước Thiên Chúa (x. Mt 6,25-30). Khi sai các Tông đồ đi rao giảng và chữa lành bệnh tật, Ngài cũng dặn rằng: chớ mang gì đi đường và cũng đừng mặc hai áo (x. Lc 9,1-6). Những bộ áo thụng xúng xính của các thầy tư tế, luật sĩ không đi đôi với đời sống đạo đức cũng bị Đức Giêsu lên án cách nghiêm khắc và Ngài kết luận đó là vụ hình thức và không đẹp lòng Thiên Chúa (x. Mc 12,38). Qua đó, Ngài nhấn mạnh y phục nội tâm quan trọng hơn y phục bên ngoài.
Đức Kitô cũng nhiều lần tỏ vinh quang huy hoàng của Ngài qua y phục. Thánh Mathêu trình bày trong Tin mừng về việc Chúa Giêsu dẫn ba môn đệ lên núi: “Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17,2). Y phục sáng chói của Chúa Giêsu không chỉ là một phép lạ trước mặt các môn đệ nhưng kỳ diệu hơn, Ngài bày tỏ vinh quang đầy tràn nơi Ngài là Con Thiên Chúa, là Đấng sẽ chịu chết cho tội lỗi nhân loại và dẫn đưa họ vào trong vinh quang sáng ngời ấy. Khi chịu đóng đinh trên Thập giá, y phục của Chúa Giêsu bị quân lính lột sạch và chế giễu. Ngài trở nên một người tầm thường, không được luật pháp bảo vệ.
Sau cuộc tử nạn, cùng với việc bị tước hết y phục và chịu chết cách nhục nhã, tưởng chừng như Chúa Giêsu không còn hy vọng gì cho thế giới và trần gian cũng mất hy vọng về Ngài. Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chiến thắng tử thần, phục sinh khải hoàn. Y phục của Ngài lúc này là vinh quang rực rỡ, áo của Ngài là ánh sáng huy hoàng (x. Cv 10,30; 12,7) đến nỗi cặp mắt trần gian của bà Maria Madalena lại tưởng là người làm vườn: “Đức Giê-su nói với bà : “Này bà, sao bà khóc ? Bà tìm ai ?” Bà Ma-ri-a tưởng là người làm vườn, liền nói : “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Ga 20,15). Vẻ vinh quang, huy hoàng của Đức Kitô phục sinh cũng khiến cho hai môn đệ trên đường Emmaus không nhận ra Chúa của mình và chỉ nhìn Chúa như một người khách bộ hành: “Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24,15-16). Như vậy, chỉ khi Thiên Chúa muốn mạc khải, họ mới có thể nhận ra Ngài.
2.4. Y phục của những người được tuyển chọn
Qua cuộc tử nạn và phục sinh của Đức Kitô, nguồn sáng bất diệt nơi Ngài là bộ y phục mà toàn nhân loại khao khát được chiêm ngắm. Hưởng kiến vinh quang Thiên Chúa là mục đích tối hậu mà con người mong đạt đến. Tuy nhiên, một thụ tạo hèn yếu và đầy nhơ nhớp của tội lỗi thì không thể và hoàn toàn không xứng để diện kiến thánh nhan Thiên Chúa, vì thế, nhân loại được mời gọi lột bỏ con người cũ để khoác trên mình bộ y phục mới chính là “mặc lấy Đức Kitô”. Như lời thánh Phaolo kêu gọi: “Anh em phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,24).
Khi Đức Kitô chiến thắng tử thần, Ngài đưa nhân loại vào một kỷ nguyên mới của sự sáng tạo. Buổi ban đầu của khởi thuỷ, Thiên Chúa tạo dựng nên con người trần truồng, ân sủng của Ngài là y phục bao phủ trên họ. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bất tuân Thiên Chúa, mắt con người mở ra nên họ cảm thấy xấu hổ trước mặt nhau, Thiên Chúa mặc cho con người chiếc áo bằng da. Rồi dần dần bởi cảm thức về tội lỗi mà con người tạo ra cho mình những y phục che thân. Từ nay nhờ Đức Kitô, con người được thoát khỏi sự trần truồng là tội lỗi, tức là được tự do trong tư cách là con Thiên Chúa và có quyền thừa kế thần linh. Nhờ đức tin và phép rửa, nhân loại được tuyển chọn và được đưa vào hàng ngũ những người hợp nhất nên một với Đức Kitô (x. Gl 3,28). Những người được đứng trước ngai Thiên Chúa, đêm ngày thờ phượng trong Đền thờ của Người là những người đã trải qua cơn thử thách lớn lao, họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo trong máu Con Chiên (x. Kh 7,14). Những người đứng trong hàng ngũ tuyển chọn được sánh ví như hiền thê trang điểm sẵn sàng với áo vải mịn trắng tinh và sáng chói là những việc tốt việc lành để tiến vào cử hành hôn lễ với Đức Lang Quân.
Đến thời kỳ Thiên Chúa đã định, thời kỳ mà những người được tuyển chọn trong y phục “áo trắng”, đứng vào chỗ của mình bởi vì họ xứng đáng (x. Kh 3,4) thì bấy giờ Giêrusalem mới được trang điểm như một tân nương bước tới trước mặt Tân Lang (x. Kh 21,2). Kinh thánh diễn tả Thiên Chúa cuốn trời đất này qua đi như một tấm vải cũ được thay thế để trời mới đất mới được tỏ hiện: “Chúa sẽ cuốn chúng lại như cuốn áo choàng, chúng sẽ bị thay như người ta thay áo” (x. Dt 1,11). Thành thánh của những người được tuyển chọn sẽ không cần ánh sáng mặt trời và mặt trăng, vì vinh quang Thiên Chúa sẽ chiếu soi và Con Chiên như ngọn đèn chiếu soi (x. Kh 21,23). Đây là sự đảm bảo về lời hứa ban lại vinh quang mà nguyên tổ đánh mất nơi vườn địa đàng. Ân sủng và vinh quang của Thiên Chúa là “y phục” bao phủ khắp mặt địa cầu.
- Một đời sống mới – mặc lấy Đức Kitô
Những Kitô hữu tin rằng nhờ Bí tích Thánh tẩy, mình đã được chết và chôn vùi cùng với Đức Kitô để rồi được chỗi dậy với Ngài (x. Rm 6,4-5). Tuy nhiên, đời sống mới ấy không được hiểu như một trò ảo thuật để biến đổi một cách thần kỳ. Theo thánh Phaolo, nhờ Bí tích Rửa tội, các tín hữu được hiệp thông vào sự chết của Đức Kitô, họ được mai táng và sống lại với Ngài. Như vậy, những người chịu phép rửa đã “mặc lấy Đức Kitô”[7]. Áo trắng mà người lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy khoác trên mình nói lên cách tượng trưng cho người chịu phép rửa đã sống lại cùng với Đức Kitô và được mặc lấy Ngài. Điều đó có thể được diễn tả cách chân thật và mạnh mẽ như thánh Tông đồ dân ngoại: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).
Đời sống mới trong Đức Kitô có thể được diễn tả bằng nhiều cách như: sự sống, sự công chính, sự bình an[8]. Tuy nhiên, việc mặc lấy Đức Kitô được biểu lộ nơi mỗi Kitô hữu qua thước đo của sự tự do. Nếu con người chọn lựa khỏi sự chết, khỏi tội lỗi thì họ tỏ lộ một khuôn mặt của Đức Kitô là sự bình an, sự sống bất tử, sự công chính. Mặc lấy Đức Kitô là biến đổi trọn vẹn từ nội tâm sâu thẳm. Nội tâm được biến đôir ấy được biểu trưng bằng tấm áo trắng mà chúng ta khoác lên khi lãnh nhận bí tích rửa tội. Với y phục áo trắng biểu trưng, chúng ta được gia nhập vào Hội Thánh, trở thành con cái của Chúa và được tha thứ mọi tội lỗi như lời thánh Phaolo nói: “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3,27).
Nói đến một loại y phục mới, một đời sống mới trong Đức Kitô là nói đến một cách “mặc” rất cụ thể. Trước hết, chúng ta phải lột bỏ bộ y phục cũ nát và không thích hợp của một Kitô hữu tức là loại bỏ những gì thuộc về đêm tối để được ánh sáng của Đức Kitô bao phủ cách trọn vẹn. Loại bỏ y phục cũ là đừng tiếp tục chiều theo tính xác thịt để thoả mãn các dục vọng (x. Rm 13,13-14). Nói cách khác là chúng ta phải từ bỏ chính mình. Mặc lấy Đức Kitô cũng là kiểu nói quen thuộc trong Cựu ước, nó đồng nghĩa với việc mặc lấy sự công chính (x. Tv 131/132,9) hay mặc lấy ơn cứu độ (x. Is 61,10). Một Kitô hữu đích thực phải là một người công chính từ trong tư tưởng cho đến lời nói và hành động[9]. Không những loại bỏ con người cũ, chúng ta phải trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô là trưởng tử của chúng ta. Sau cùng, thánh Phaolo cho chúng ta cái nhìn cụ thể về bộ y phục đúng nghĩa của một đời sống mới trong Đức Kitô: “lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo Tin mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, nhờ đó anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của ác thần. Sau cùng, hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa” (Ep 6,14-17).
Kết luận
Trong xã hội ngày nay, câu chuyện về y phục trong đời sống con người không chỉ ở mức độ thường xuyên, thậm chí nó còn được chú ý và nâng tầm quan trọng quá mức. Chính điều đó có thể làm phôi phai phần nào ánh nhìn đức tin về bộ y phục nội tâm. Đức Thánh Cha Phanxico đã từng có lần mời gọi các bạn trẻ hãy ra khỏi mình và mặc lấy bộ y phục của đức tin, y phục của hy vọng và y phục của tình yêu để sống một cách tròn đầy nhất. Điều đó chỉ được tìm thấy khi con người khoác trên mình bộ y phục Chân Thiện Mỹ là chính Đức Kitô. Nhờ đó, con người được nâng cao, trở nên con người đúng nghĩa hơn, trọn vẹn hơn và giống hình ảnh của Đấng Tạo Hoá hơn[10].
[1] X. Giáo hoàng học viện Piô X Đà Lạt, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, (Nxb. Tôn giáo, 2016), tr. 1651.
[2] Ibid.
[3] Ibid, tr. 1652.
[4] Giuse NTL, “Y phục – từ ngữ Kinh thánh Chúa nhật mùa chay II A”, (27/02/2023), https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/y-phuc-%7C-tu-ngu-kinh-thanh-chua-nhat-mua-chay-ii-a-mt-171-9-31377.html.
[5] X. Giáo hoàng học viện Piô X Đà Lạt, Điển ngữ Thần học Thánh kinh, (Nxb. Tôn giáo, 2016), tr. 1652.
[6] Ibid, tr. 1654.
[7] X. Giáo lý GHCG, số 1227.
[8] X. Norberto Nguyễn Văn Khanh, OFM, Cuộc vượt qua của Đức Giêsu Kitô, (Nxb. Đồng Nai, 2019), tr. 233.
[9] X. Lm Giuse Nguyễn Công Đoan, S.J, “Hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô”, 22/7/2020, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hay-mac-lay-chua-ki-to-gie-su-40341.
[10] Lm Giuse Nguyễn Hữu An, “Hãy mặc lấy Đức Kitô”, 01/8/2013, https://www.tonggiaophanhanoi.org/hay-mac-lay-duc-kito/.
— Therese Thông Xanh, C.M.R —






